Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

Cây thanh táo

Cây thanh táo là loại Cây nhỏ thường xanh, cao 1 – 1,5m. Thân cành non màu xanh hoặc tím sẫm. Lá mọc đối, hình mác hẹp, có gân chính tím, không lông, trên mặt lá thường có những đốm vàng hoặc nâu đen do một Loài nấm gây nên.
Hoa mọc thành bông ở ngọn hay ở nách lá về phía ngọn và bao bởi nhiều lá bắc hình sợi; đài 5, hợp ở gốc, cao 3 – 5mm; tràng màu trắng hay hồng có đốm tía, chia 2 môi; nhị 2, bao phấn 2 ô. Quả nang hình đinh, dài 12mm.
Cây Thanh táo
Phân bố:
Loài của Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Sinh thái:
Cây mọc hoang và thường được trồng khắp nơi. Có nhân giống bằng hạt hoặc cành giâm.
Công dụng:
Thường trồng làm hàng rào các vườn cảnh, công viên, trường học.
Cây có vị hơi cay, tính bình. Vào kinh can, vị, đại tràng.
Tác dụng: Hoạt huyết, giảm đau. Trong đơn thuốc trị chứng vàng da thường có cả rễ cây Thanh Táo.
Khi vết thương nhiễm trùng, bỏng dùng lá Thanh Táo, lá Mỏ quạ tươi ( lượng hai thứ bằng nhau ) giã đắp hoặc vắt lấy nước, tẩm gạc đắp.
Trong thuốc bó gãy xương có thêm lá Thanh Táo giúp mau giảm sưng, mau liền xương. Đặc biệt khi bị trật đả ( chấn thương bầm dập, sưng đau ) bong gân, dùng lá Thanh Táo nhiều nhất. Lá tươi giã nát đắp bó sẽ khỏi nhanh, hết sưng đau, tan máu bầm.
Cây Thanh táo
Ngoài tác dụng hoạt huyết, rễ Thanh Táo được dùng trong thang thuốc trị thấp khớp, mỗi ngày 30g khô, nấu uống.
Đơn thuốc:
1. Chữa sản phụ máu xấu đưa lên choáng váng, mắt mờ: Thanh táo, Mần tưới, Cỏ màn chầu, mỗi vị 20g, sắc uống.
2. Chữa vết lở, vết thương nhiễm độc chảy máu không dứt hay nhọt lở thối loét, khó kéo miệng. Lá Thanh táo và lá Mỏ quạ lượng bằng nhau, rửa với nước muối, giã nhỏ, đắp rịt, thay thuốc hằng ngày. Trong uống nước sắc Bạch chỉ nam, Kim ngân hoa, Bồ công anh, mỗi vị 1 nắm và ăn rau sống hằng ngày, sau một tuần lễ sẽ có kết quả.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét