Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Rắn bông súng


Đến Đồng Tháp Mười mùa nước nổi, bạn sẽ được hân thưởng một vài món “ăn chơi” từ rắn bông súng. Đây là mùa rắn bông súng có mặt “tràn đìa” ở khu vực này. Theo những người săn bắt rắn sẽ là trải nghiệm thú vị nhớ đời của bạn, vì bạn sẽ biết loài rắn này rất “khác thường” so với đồng loại, là: chúng không đẻ trứng, chỉ đẻ con. Rắn săn bắt được, tha hồ thưởng thức.
Giản tiện nhất là món rắn bông súng nướng lèo. Cầm đuôi, quật mạnh đầu rắn xuống đất hoặc bờ rào, vách nhà, rồi cứ vậy mà cuốn tròn mình rắn trong gắp, kẹp lại, để lên bếp lửa than hồng. Trở mặt rắn lần nữa, trong thời gian ngắn, đã có những con rắn nhỏ như ngón tay cái chín đều, mời gọi. Dùng tay bẻ từng khúc ngắn vừa ăn, chấm nước mắm me ăn vừa giòn da, vừa ngon ngọt thịt còn “ứa” những giọt máu hồng, nhưng ngon “ác liệt” là nhai luôn xương, nghe rau ráu.
Ngon “thấu trời” là món rắn bông súng làm dồi, nấu cháo. Để thực hiện món này, người ta làm sạch vảy rồi lột da rắn. Công đoạn lột da rắn đòi hỏi phải có “tay nghề”, lớ quớ da rách, coi như không hoàn thành món dồi độc đáo được. Da lột còn nguyên, rửa sạch, để đó. Lọc thịt rắn, loại bỏ một ít xương to, nếu không thì để nguyên đem bằm thật nhuyễn rồi trộn đều với ba rọi bằm cùng một ít tiêu, hành, nước mắm. Khéo tay dồn hỗn hợp này vào trong da rắn sao cho không nứt, bể. Dồn xong, dùng cọng hành trụng buộc túm một đầu lại, cho vô nồi cháo. Khi cháo nhừ tỏa mùi thơm phức là biết món ăn đã hoàn tất. Gắp con rắn chín nằm cong queo trong nồi ra, cắt từng khúc vừa ăn cho vào dĩa trộn đều với rau ghém bằng bắp chuối.
Mồi màng đã sẵn sàng, xin mời các “huynh” cầm đũa. Gắp khúc rắn bông súng có lẫn rau ghém chấm nước mắm giấm ớt tỏi đường hoặc chấm muối hột đâm ớt xanh, cho vào miệng nhai sẽ biết cái sự ngon của cuộc đời này như thế nào. Nhấm nháp dồi rắn với rượu nếp rặt sôi tim mới là tuyệt thú. Khi sần sần trong người, húp chén cháo rắn bông súng nóng hổi, bao nhiêu mồ hôi trong người “túa” ra và cơn ngà ngà say bỗng dưng tiêu biệt, mới biết “trời cao đất dầy” là thế nào. Bảo đảm ăn một lần ghiền suốt đời!

Vua rắn hổ hèo


Tại vùng biên giới xa xôi, thuộc ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, huyện An Phú – An Giang, hầu hết thanh niên nông dân đều sống bằng nghề ruộng rẫy. Nhưng anh Nguyễn Hoàng Quốc Việt thì ngược lại, anh chọn làm giàu bằng nghề nuôi rắn ri voi và rắn hổ hèo.

Chỉ mới hơn một năm phát triển, trại của anh Việt đã có trên 200 rắn bố mẹ, 300 rắn lứa và nhiều rắn con mới nở. Đó là chưa kể số rắn thương phẩm và rắn giống đã bán ra trên 600 con. Hiện nay con giống đang khan hiếm, trang trại duy nhất của anh ở An Giang không đủ cung cấp cho các hộ nuôi.

Anh Nguyễn Hoàng Quốc Việt và những con rắn hổ hèo sắp đẻ.

Trại rắn của anh Việt nằm bên dòng sông sát biên giới, bên kia là huyện Cỏ Thum, tỉnh Kandal – Campuchia. Năm 2009, anh Việt bắt đầu nuôi rắn. Từ lúc đầu, anh đã có định hướng nuôi với quy mô trang trại, thay vì nuôi nhỏ lẻ kiểu hộ gia đình. Điều thú vị là trại rắn của anh được Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận đăng ký Trại gây nuôi sinh sản - Nuôi sinh trưởng động vật hoang dã. Nhờ vậy mà việc mua bán, vận chuyển động vật hoang dã đã được giám sát chặt chẽ từ các cơ quan chức năng.

Rắn hổ hèo mới nở.

Hiện, nhiều nhà hàng, quán ăn trong vùng và khu vực lân cận đến trại anh Việt thu mua với giá từ 500.000 – 650.000 đồng một kg, nhưng không đủ để bán. Một số hộ dân ở các huyện An Phú và Tân Châu – An Giang đã nuôi hổ hèo cho sinh sản và bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế đáng khích lệ. Trại Nhờ kinh nghiệm nuôi rắn ri voi trước đây, nên việc “thuần hóa” rắn hổ hèo, cũng như hỗ trợ bà con nông dân trong vùng cùng nuôi loài rắn này của anh khá thuận lợi.

Theo kinh nghiệm của anh, rắn hổ hèo dễ nuôi, mau lớn, ít bệnh tật, đầu ra lại ổn định. Khởi đầu, anh đi thu mua nhỏ lẻ từ các hộ nông dân đem về chăm sóc. Sau 6 tháng, rắn trưởng thành; khoảng 1 năm tuổi, rắn sẽ tự phối giống và bắt đầu đẻ. Mỗi lứa khoảng 10 trứng, nhiều nhất là 20 trứng. Sau khi rắn đẻ xong, người nuôi cho tất cả trứng vào một cái thùng, hoặc khạp có đổ cát để ấp, mặt đậy kín để giữ ấm. Sau hai tháng, trứng sẽ nở với tỷ lệ từ 85 – 95%. Rắn hổ hèo mỗi năm đẻ hai lần, vào tháng 2, 3 và giữa năm.

 Trứng rắn hổ hèo.

Cũng theo anh Việt, hổ hèo tuy dễ nuôi nhưng muốn đạt hiệu quả cao, người nuôi phải nắm vững kỹ thuật chăm sóc, từ thức ăn đến nước uống, nhất là môi trường phải bảo đảm vệ sinh. Thức ăn chính của rắn là động vật như ếch, nhái, chuột hoặc các phế phẩm từ gia súc, gia cầm, rất ít tốn kém.

Hổ hèo là loài rắn hoang dã, có người còn gọi là hổ trâu, hổ vện, ráo trâu, tên khoa học là Ptyas Mucosus, không có nọc độc nguy hiểm. Răn hổ hèo có hàm lượng protid và acid amin rất cao, tốt cho sức khỏe. Vì vậy mà nhiều người săn tìm ráo riết để lấy thịt hoặc ngâm rượu làm thuốc. Nổi tiếng nhất là ngũ xà tửu, gồm: hổ đất, hổ hèo, hổ hành, hổ lửa, mái gầm.

Hoài Vũ

Rắn Hổ Hèo (Đồng bằng sông Cửu Long) còn được gọi là:

Rắn Ráo Trâu
  • Rắn Ráo Trâu

  • Rắn Hổ Trâu (miền Bắc)
  • Rắn Hổ Vện (miền Đông Nam Bộ, trừ Tây Ninh)

  • Rắn Long Thừa (Tây Ninh)

  • Rắn Ráo Trâu

  • Rắn Gáo Trâu

  • Rắn Giáo Trâu

Kỹ thuật nuối Rắn Ráo Trâu (Long Thừa, Gáo Trâu, Giáo Trâu, Hổ Vện, Hổ Trâu)

Kỹ thuật nuối Rắn Ráo Trâu (Long Thừa, Gáo Trâu, Giáo Trâu, Hổ Vện, Hổ Trâu)

- Rắn Ráo trâu thuộc loài rắn hổ, tên khoa học là Ptyas Mucosus, là loài rắn nằm trong Sách đỏ Việt Nam.

Tên gọi của nó tùy vào nơi nó sống. Ở miền Đông người ta gọi nó là rắn Long Thừa, miền Tây gọi là hổ hèo, miền Trung gọi là ráo trâu và miền Bắc là hổ trâu. Rất nhiều tên gọi nhưng tên chung của loài rắn này là hổ vện vì trên mình nó có nhiều vằn vện.

Bắt rắn ráo trâu (gáo trâu, giáo trâu, long thừa, hổ vện, hổ trâu)
Bắt rắn ráo trâu (gáo trâu, giáo trâu, long thừa, hổ vện, hổ trâu, hổ hèo)

- Đây không phải là loài rắn độc, nguy hiểm mà có nhiều công dụng trong y học, nhất là sản xuất thuốc chữa bệnh nên rắn Long thừa đang được bán trên trị trường với mức giá bình quân 450.000 đồng/kg.


I. Kỹ thuật nuôi
1. Chuông nuôi
Chuồng nuôi rắn ráo trâu (rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
Chuồng nuôi rắn ráo trâu (rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
Chuồng nuôi rắn ráo trâu (rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
Chuồng nuôi rắn ráo trâu (rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
- Chuồng nuôi rắn có nhiều dạng, chuồng xi măng hoặc chuồng lưới.
- Diện tích chuồng nuôi: 2m x 1m x 1,2m (Dài X Rộng X Cao).
- Cửa chuồng làm ngang bên hông để tiện vệ sinh.
- Bên trong chuồng có vỉ tre để rắn nằm, mặt trên của chuồng lợp bằng lưới sắt nhỏ để tạo sự thoáng mát, sạch và êm để rắn nghỉ ngơi.
- Đáy chuồng tráng một lớp xi măng mỏng, sau đó đắp lên một lớp đất khoảng 2cm
- Chuồng rắn có thể đặt ở vị trí đầu nhà nơi có mái che hoặc tận dụng các gian nhà trống để nuôi, chỗ đặt chuồng phải đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, chống gió lạnh thổi vào. Mỗi chuồng có thể nuôi được 50 con rắn.
- Theo kinh nghiệm nhiều năm trong chăn nuôi rắn, loài rắn rất dễ gần nếu như đã quen hơi với người nuôi. Đặc biệt khi cho rắn ăn phải mang đủ các thiết bị phòng hộ như: kính, găng tay, ủng cao su và nhất là không uống rượu trước khi vào chuồng rắn tránh bị lạ hơi gây sự phản ứng của rắn.
- Trước đây, việc cho rắn ăn là đưa mồi vào chuồng một lúc, không kiểm tra được khẩu phần ăn của từng con nên dễ xảy ra tình trạng dư thừa thức ăn gây tốn kém và lãng phí. Điều này làm rắn chán ăn và gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng rắn, rắn trưởng thành không đồng đều.
- Trong quá trình nuôi, phải thường xuyên phân loại rắn, phát hiện kịp thời và cách ly rắn bệnh để điều trị, ngăn ngừa dịch bệnh cho rắn, tránh thất thoát trong quá trình chăn nuôi.

2. Thức ăn
Thứa ăn rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, gắn ráo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
Thứa ăn rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
- Rắn là loài động vật hoang dã mới được thuần hóa, sức đề kháng cao, ít dịch bệnh, có khả năng thích ứng với điều kiện nuôi dưỡng. Chúng rất kỹ tính, thức ăn chính của chúng là cóc, nhái … và chúng ăn rất sạch, con mồi phải còn sống. Hơn nữa, rắn chỉ ăn khoảng 2-3 lần trong 1 tuần.
- Thức ăn của rắn non chủ yếu là ếch, nhái nhỏ, cá, tép…Cứ 3-5 ngày lại cho rắn ăn một lần, số lượng thức ăn tăng dần theo tuổi.
- Thức ăn của rắn trưởng thành chủ yếu là chuột, cóc, ếch, nhái…Rắn bắt mồi bằng cách đớp, ngoạm, răng cong vào trong nhờ cấu tạo của xương hàm mở rộng nên có thể nuốt được những con mồi lớn.
- Thức ăn cho rắn không được cho vào tràn lan như trước, mà phải đựng vào trong thùng để khi đói rắn có thể vào ăn, những thức ăn thừa sẽ không bị rơi vãi ra ngoài làm bẩn chuồng rắn.
- Nước uống: tốt nhất nên cung cấp đầy đủ nước sạch và mát cho rắn uống và tắm tự do. Trong chuồng cần đặt vật chứa nước cho rắn tắm và uống, phải thay nước hàng ngày. Nên đặt bóng đèn trong chuồng rắn, nhằn tạo cho rắn thích nghi với ánh sáng và tạo nhiệt độ ấm cho rắn (nếu vào mùa đông).

II. Kỹ thuật sinh sản
Việc chọn giống rắn làm bố mẹ rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến chất lượng con rắn sau này.

1. Chọn và chăm sóc rắn sinh sản
- Chọn rắn đực, rắn cái làm giống phải dựa trên ngoại hình, rắn từ khi sinh ra đến trưởng thành không có lần nào bị nhiễm bệnh. Trong quá trình nuôi, rắn chóng lớn, da rắn mượt, thân hình dài cân đối.
- Rắn đực và rắn cái phải khác dòng để khi lai tạo tránh nhiễm trùng huyết.
- Quá trình sinh trưởng phát triển của rắn phải trải qua những lần lột da. Đối với loài rắn Long Thừa, thời gian rắn thay da khoảng 15-20 ngày và tiếp tục thay da trong suốt quá trình rắn lớn, một con rắn cái từ lúc nở đến lúc sinh sản từ 9-10 tháng tuổi. Sau khi thay da nếu được cung cấp thức ăn đầy đủ, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tốc độ tăng trưởng của rắn có thể tăng nhanh hơn 2-3 lần.
- Bên cạnh việc chọn lựa rắn giống thì vấn đề đảm bảo tỷ lệ trứng rắn nở cao cũng cần được quan tâm. Để đảm bảo tỷ lệ trứng nở cao chúng ta có thể nuôi ghép 2 con rắn đực với 10 con rắn cái.
- Thời gian rắn đẻ sau khi phối giống khoảng 30 đến 35 ngày. Một con cái có thể đẻ từ 12 – 21 trứng.

2. Kỹ thuật ấp trứng
Kỹ thuật ấp trứng rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
Kỹ thuật ấp trứng rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện)
- Dụng cụ ấp trứng rắn của nông dân hiện nay rất đơn giản (một cái lu), lấy đất có độ ẩm 25-30 độ bỏ vào ½ lu, sau đó xử lý thật chặt, tiếp theo rãi thêm 01 lớp cát trải mỏng rồi bỏ trứng rắn vào, dùng bao diêm hoặc vải bịt miệng lu lại, khoảng 75 ngày sau rắn tự nở.
- Trong điều kiện chăn nuôi, khi ấp trứng cần kiểm tra trứng vài lần, nếu thấy các quả trứng to đều, trắng, khô ráo là trứng tốt, những quả vỏ xỉn vàng là trứng hỏng phải loại bỏ ngay.

3. Kỹ thuật nuôi rắn con
Kỹ thuật nuôi rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện) con
Kỹ thuật nuôi rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện) con
Kỹ thuật nuôi rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện) con
Kỹ thuật nuôi rắn ráo trâu (Rắn long thừa, rắn hổ trâu, rắn gáo trâu, rắn giáo trâu, rắn hổ vện) con
- Rắn con mới nở thả vào chuồng cho uống nước khoảng 7 ngày sau rắn thay da, khi rắn thay da thả nhái nhỏ vào để rắn ăn, trung bình 50 con rắn con 01 tháng tuổi mỗi ngày ăn khoảng 0,5kg nhái con.
- Rắn con để nuôi hiện có giá từ 50.000- 70.000đ/01con. Rắn 8 tháng tuổi có trọng lượng từ 1,2kg trở lên thì mới đẻ nhiều trứng.

III. Quản lý chăm sóc, phòng trị bệnh
- Công việc quản lý vệ sinh chuồng trại cũng là yếu tố quyết định đến kết quả nuôi. Nếu quản lý không tốt dễ dẫn đến thiệt hại. Thường ngày phải dọn phân trong chuồng, số phân hàng ngày thải ra không nhiều, phân thường khô, ít mùi hôi.
- Rắn là động vật hoang dã, ít bị bệnh. Tuy nhiên, biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho rắn là biện pháp tốt nhất: chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo thành phần và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ, không lầy lội, không nóng quá, lạnh quá, không có mùi lạ, tránh ruồi nhặng và các loại côn trùng khác gây hại cho rắn.
Rắn Long Thừa là loài rắn ít bị bệnh hơn các loài rắn khác, song trong quá trình nuôi đôi lúc rắn cũng bị bệnh tiêu chảy.
→ Khi rắn bị tiêu chảy, cách nhận biết như sau:
Hàng ngày dọn vệ sinh chuồng cho rắn, khi quan sát thấy số lượng phần ăn của rắn giảm, có hiện thượng phân hôi, nhão đó là bệnh tiêu chảy.
→ Để điều trị bệnh này ta áp dụng biện pháp sau:
Cho rắn ăn ít lại và cho uống men tiêu hóa chống tiêu chảy. Hàng ngày, quét dọn đáy chuồng, rửa máng nước, loại bỏ phần thức ăn thừa. Đồng thời phải đảm bảo chế độ và số lượng thức ăn theo nhu cầu của rắn trong từng thời kỳ (dựa theo trọng lượng của rắn).

IV. Thông tin giá thành
- Trước đây, nhiều người dân đi bắt rắn hoang dã để bán không những vi phạm Luật bảo tồn động vật hoang dã, mà hiệu quả kinh tế cũng thấp, do rắn hoảng sợ, giảm sức khỏe, tổn thương khi bị đuổi bắt, rắn chậm lớn, thất thoát cao. Nhưng thông qua mô hình nuôi rắn sinh sản này, người dân không còn bắt rắn con ngoài tự nhiên đem về nuôi, mà người nuôi trước nhân giống, chuyển giao kỹ thuật và bán giống cho người sau. Nghề nuôi rắn đã làm cho nhiều hộ chuyển sang bắt chuột để bán làm giảm đáng kể nạn “giặc chuột” phá hoại mùa màng tại địa phương, đồng thời đây lại là biện pháp giúp người dân có thêm nguồn thu nhập trong lúc nông nhàn.
- Nếu như trước đây đối với đa số người dân rắn là nỗi sợ hãi thì hiện nay thông qua việc nuôi rắn, chúng như những người bạn trong mỗi gia đình. Với việc nuôi rắn trong chuồng, tiếp xúc với rắn hàng ngày tạo cho rắn thân thiện với con người. Có thể nói, con rắn đối với người dân rất quan trọng, bởi vì ngoài giá trị làm thuốc để chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe, rắn còn có giá trị kinh tế đem lại nguồn thu nhập cao, tạo công ăn việc làm cho người dân.
- Hiện nay, thị trường tiêu thụ rắn rất phong phú và đa dạng. Rắn thương phẩm đang được cung cấp cho nhiều nhà hàng, khách sạn trong nước và một phần phục vụ cho xuất khẩu.
- Trọng lượng rắn nuôi trong một năm bình quân khoảng 1,3kg/01 con, với giá thị trường 450.000đ/kg, trừ đi chi phí ban đầu thì với 100 con rắn thương phẩm lợi nhuận mang về khoảng 40- 50 triệu đồng /01 năm.
* Đối với việc bán giống: rắn con (khoảng 01 tuần tuổi) được xuất chuồng dưới dạng rắn giống với giá thành từ 50.000- 70.000đ/01con. Như vậy, nếu nuôi 100 con rắn giống cái, sau một lứa đẻ có thể mang về cho người nuôi khoảng 84 triệu đến 119 triệu (chưa trừ chi phí ban đầu).


RẮN RI CÁ



RẮN RI CÁ - Homalopis buccata
RẮN RI CÁ - Homalopis buccata
Homalopis buccata (Linnaeus, 1758)
Coluber buccata Linnaeus
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Mô tả rắn ri cá

Rắn nước là loài rất phổ biến. Chúng được nhận biết ngay lập tức bởi cái đầu to rộng. Thân to, chắc, hình trụ với các vảy gồ lên. Trên đỉnh đầu có những hoa văn như hình mặt nạ màu trắng. Thân màu nâu đỏ nhạt với nhiều vạch ngang màu vàng nhạt viền đen, nhưng nhạt dần sang màu nâu xám ở các con rắn già. Phần bụng màu trắng có những chấm tròn đen nhỏ. Rắn con có màu đen và vạch trắng.

RẮN RI CÁ - Homalopis buccata
RẮN RI CÁ - Homalopis buccata

Sinh học rắn ri cá:

Thức ăn chính cùa loài này là cá và ếch nhái. Con cái mỗi lứa đẻ từ 2 – 20 con, rắn con dài khoảng 23cm.

Nơi sống và sinh thái:

Là loài ăn đêm và sống bán thời gian dưới nước, nó cư trú ven sông nước ngọt, ao hồ, kênh lạch và các đầm lầy ở độ cao đến 550m.

Phân bố:

Việt Nam: Kontum (MoRay), Bình Định (Qui Nhơn), Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang (Rạch Giá), Sóc Trăng, Minh Hải (U Minh, Năm Căn)

Thế giới: Rắn này sống ở hầu hết các khu vực Đông nam châu Á, bao gồm Thái Lan, Mã Lai và Singapore, Cambodia, Ấn Độ

Tình trạng:

Số lượng còn khá phổ biến ở đồng bằng Nam bộ.

Tài liệu dẫn: A photographic guider to Snakes and other reptiles of Thailand – trang 42. Danh lục bò sát và ếch nhái Việt Nam trang 127.