Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Heliopsis

Heliopsis là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc (Asteraceae).
  1. Heliopsis annua - Zacatecas, Oaxaca, Coahuila, Michoacán, Querétaro, Guanajuato, Nuevo León, Puebla, México State, Hidalgo, San Luis Potosí
  2. Heliopsis anomala - Baja California Sur
  3. Heliopsis buphthalmoides - Chiapas, Oaxaca, Panama, Honduras, Costa Rica, Guatemala, Colombia, Ecuador, Venezuela, Peru, Bolivia
  4. Heliopsis canescens - Ecuador
  5. Heliopsis decumbens - Peru
  6. Heliopsis filifolia - Coahuila
  7. Heliopsis gracilis : smooth oxeye, pinewoods oxeye - southeastern + south-central United States[6]
  8. Heliopsis helianthoides : smooth oxeye - most of eastern + central USA and Canada[7] false sunflower, oxeye, rough oxeye[8]
  9. Heliopsis lanceolata - Colombia
  10. Heliopsis longipes : gold root - is used medicinally. - San Luis Potosí
  11. Heliopsis novogaliciana - Jalisco, Durango, Sinaloa
  12. Heliopsis parviceps - Guerrero
  13. Heliopsis parvifolia : mountain oxeye - northern Mexico, southwestern United States[9]
  14. Heliopsis procumbens - Durango, Jalisco, Mexico State, Distrito Federal, Sinaloa
  15. Heliopsis_scabra
  16. Heliopsis scabra 'Goldgreenhart'
  17. Heliopsis sinaloensis - Sinaloa






Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2015

Phân loại thực vật

Phân loại học thực vật hay phân loại thực vật là ngành khoa học tìm kiếm, xác định, miêu tả, xếp loại và đặt tên cho thực vật. Ngành khoa học này là một trong những nhánh chính của phân loại học (khoa học về tìm kiếm, miêu tả, xếp loại, và đặt tên các sinh vật sống).

Xác định và xếp loại

Hai mục tiêu chính của phân loại thực vật là xác định và xếp loại thực vật. Sự khác biệt giữa hai mục tiêu này là quan trọng và thường bị bỏ qua.
Xác định thực vật là việc xác định danh tính của một thực vật chưa biết bằng cách so sánh với mẫu vật thu thập được trước đó hoặc với sự trợ giúp của sách hoặc hướng dẫn nhận dạng. Quá trình xác định sẽ liên kết mẫu với một tên xuất bản. Khi một mẫu thực vật đã được xác định, tên và thuộc tính của nó được biết đến.
Xếp loại thực vật là việc đặt thực vật được biết đến vào nhóm hoặc thể loại để hiển thị một số mối quan hệ. Phân loại khoa học sau đó tuân theo một hệ thống các quy tắc được tiêu chuẩn hóa các kết quả, và tiếp tục gộp các thể loại đã được xếp vào một hệ thống phân cấp. Ví dụ, họ bao gồm các loài lili được xếp loại như sau:
Sự phân loại thực vật tạo ra một hệ thống được cấu trúc để đặt tên và xếp danh mục cho các loài được phát hiện, và trong trường hợp lý tưởng nó phản ảnh các ý tưởng khoa học về mối quan hệ giữa các loài thực vật.

Các hệ thống phân loại

  1. Hệ thống APG
  2. Hệ thống APG II
    • Hệ thống APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) là một hệ thống phân loại sinh học thực vật hiện đại dựa trên việc phân tích phân tử được công bố bởi Angiosperm Phylogeny Group (Nhóm phát sinh chủng loài thực vật hạt kín) vào tháng 4 năm 2003. Đây là phiên bản chỉnh sửa lại của hệ thống phân loại APG đầu tiên, công bố năm 1998. Hiện tại nó đã được thay thế bằng hệ thống APG III công bố tháng 10 năm 2009. APG II được công bố như sau:
      • Angiosperm Phylogeny Group (2003). "An update of the Angiosperm Phylogeny Group classification for the ordors and families of flowering plants: APG II". Botanical Journal of the Linnean Society 141(4): 399-436. (Available online: Tóm tắt | Toàn văn (HTML) | Toàn văn (PDF))
      Hệ thống APG II công nhận 45 bộ, nhiều hơn so với hệ thống APG là 5 bộ. Các bộ mới là AustrobaileyalesCanellalesGunneralesCelastralesCrossosomatales, tất cả trong đó đều là các họ trước đó không đặt vào bộ, mặc dù được chứa trong các nhánh trên bộ trong hệ thống APG. APG II công nhận 457 họ, ít hơn 5 họ so với hệ thống APG. Tổng cộng vẫn có 39 họ của APG II không đặt trong bộ nào, nhưng trong đó 36 họ đã từng đặt trong nhánh trên bộ trong phạm vi thực vật hạt kín. 55 họ được biết đến như là "các họ trong ngoặc đơn", nghĩa là chúng là các họ tùy chọn, là các phần được tách ra từ các họ có định nghĩa rộng (sensu lato), khi hiểu các họ đó theo nghĩa hẹp (sensu stricto).
      Hệ thống APG II có ảnh hưởng và được chấp nhận hoặc là toàn bộ hoặc là một phần (đôi khi có sửa đổi) trong một loạt các dẫn chiếu gần đây.
  3. Hệ thống APG III
  4. Hệ thống Bessey
  5. Hệ thống Cronquist
    • Hệ thống Cronquist là một hệ thống phân loại thực vật có hoa (hay thực vật hạt kín) do Arthur Cronquist (1919-1992) phát triển trong các sách An Integrated System of Classification of Flowering Plants (Hệ thống hợp nhất phân loại thực vật có hoa) năm 1981 và The Evolution and Classification of Flowering Plants (Tiến hóa và phân loại thực vật có hoa) năm 1968; ấn bản lần thứ 2 năm 1988 của ông.
      Hệ thống Cronquist chia thực vật có hoa thành hai lớp rộng lớn là Magnoliopsida (thực vật hai lá mầm) và Liliopsida (thực vật một lá mầm). Trong các lớp này, các bộ có liên quan được gộp cùng nhau thành các phân lớp.
      Sơ đồ này hiện tại vẫn còn được sử dụng rộng rãi, hoặc là dưới dạng nguyên bản hoặc dưới dạng các phiên bản đã chỉnh sửa lại, nhưng theo xu hướng hiện tại thì nhiều nhà thực vật học đã và đang chấp nhận phân loại của Angiosperm Phylogeny Group cho các bộ và họ thực vật có hoa, gọi là hệ thống APG II với phiên bản chính thức có vào năm 2003.
      Hệ thống Cronquist như được trình bày trong An Integrated System of Classification of Flowering Plants (1981) bao gồm 321 họ thuộc 64 bộ trong 11 phân lớp:
  6. Hệ thống Melchior












Bộ Quắn hoa-Proteales


Proteales là một danh pháp thực vật của một bộ thực vật có hoa. Bộ này được gần như tất cả các nhà phân loại học công nhận. Tên gọi trong tiếng Việt của nó là Bộ Quắn hoa. Tên gọi quắn hoa chỉ mới xuất hiện trong thời gian không lâu do các loài quắn hoa mới được du nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây.
  • Bộ Proteales
  1. Họ Sen (Nelumbonaceae)Họ Sen (danh pháp khoa học: Nelumbonaceae) là một họ thực vật có hoa chỉ có một chi duy nhất là Nelumbo (tiếng Hindi: कमल) và có hai loài. Từ Nelumbo có nguồn gốc từ tiếng Sinhala nelum, để chỉ các loài sen.
    Các loài trong chi Nelumbo có hoa rất giống với các loài hoa súng trong họ Nymphaeaceae (họ Súng). Lá của các loài sen có thể phân biệt được với lá của các loài trong họ Nymphaeaceae, do lá sen có hình khiên (lá tròn), trong khi đó Nymphaeaceae có vết khía hình chữ V đặc trưng từ mép lá vào tâm của lá. Quả ở trung tâm chứa các hạt của các loài cũng có đặc trưng phân biệt và được gọi là bát sen.
    Nelumbo nucifera được biết đến nhiều như là một loại hoa linh thiêng của Ấn giáo và Phật giáo và là quốc hoa của Ấn Độ. Thân rễ (ngó sen) của nó cũng được sử dụng nhiều trong ẩm thực châu Á. Nhà thờ của Bahá'í giáo tại Ấn Độ có hình dạng của hoa sen.
    Nelumbo lutea là loài sen thứ hai có màu trắng thấy phổ biến ở Bắc Mỹ.Nelumbo lutea (sen trắng)
    Nelumbo nucifera (sen hồng)
  2. Họ Quắn hoa (Proteaceae)Họ Quắn hoahọ Mạ sưahọ Cơm vàng hay họ Chẹo thui (danh pháp khoa họcProteaceae) là các tên gọi của một họ thực vật có hoa chủ yếu phân bố tại Nam bán cầu. Họ này tương đối lớn, với khoảng gần 80 chi và 1.600 loài. Cùng với Platanaceae vàNelumbonaceae chúng hợp thành bộ Proteales.Họ Proteaceae
    Phân họ Bellendenoideae
    Bellendena
    Phân họ Persoonioideae
    Tông Placospermeae
    Placospermum
    Tông Persoonieae
    Toronia — Garnieria — Acidonia — Persoonia
    Phân họ Symphionematoideae
    Agastachys — Symphionema
    Phân họ Proteoideae
    incertae sedis
    Eidothea — Beauprea — Beaupreopsis — Dilobeia — Cenarrhenes — Franklandia
    Tông Conospermeae
    Phân tông Stirlingiinae
    Stirlingia
    Phân tông Conosperminae
    Conospermum — Synaphea
    Tông Petrophileae
    Petrophile — Aulax
    Tông Proteeae
    Protea — Faurea
    Tông Leucadendreae
    Phân tông Isopogoninae
    Isopogon
    Phân tông Adenanthinae
    Adenanthos
    Phân tông Leucadendrinae
    Leucadendron — Serruria — Paranomus — Vexatorella — Sorocephalus — Spatalla — Leucospermum — Mimetes — Diastella — Orothamnus
    Phân họ Grevilleoideae
    incertae sedis
    Sphalmium — Carnarvonia
    Tông Roupaleae
    incertae sedis
    Megahertzia — Knightia — Eucarpha — Triunia
    Phân tông Roupalinae
    Roupala — Neorites — Orites
    Phân tông Lambertiinae
    Lambertia — Xylomelum
    Phân tông Heliciinae
    Helicia (quắn hoa, chẹo thui, mạ sưa) — Hollandaea
    Phân tông Floydiinae
    Darlingia — Floydia
    Tông Banksieae
    Phân tông Musgraveinae
    Musgravea — Austromuellera
    Phân tông Banksiinae
    Banksia — Dryandra
    Tông Embothrieae
    Phân tông Lomatiinae
    Lomatia
    Phân tông Embothriinae
    Embothrium — Oreocallis — Alloxylon — Telopea (đế vương hoa)
    Phân tông Stenocarpinae
    Stenocarpus — Strangea
    Phân tông Hakeinae
    Opisthiolepis — Buckinghamia — Hakea — Grevillea (ngân hoa / trải bàn) — Finschia
    Tông Macadamieae
    Phân tông Macadamiinae
    Macadamia (mắc ca) — Panopsis — Brabejum
    Phân tông Malagasiinae
    Malagasia — Catalepidia
    Phân tông Virotiinae
    Virotia — Athertonia — Heliciopsis (song quần)
    Phân tông Gevuininae
    Cardwellia — Sleumerodendron — Euplassa — Gevuina — Bleasdalea — Hicksbeachia — Kermadecia — Turrillia
  3. Họ Chò nước (Platanaceae), có thể được tách ra tùy ý từ họ Quắn hoa.











Bộ Tai hùm-Saxifragales


Bộ Tai hùm (danh pháp khoa họcSaxifragales) là một bộ thực vật hai lá mầm[1]. Các họ hàng gần nhất của chúng là một nhómthực vật hai lá mầm thật sự lớn, được biết đến dưới tên gọi rosids (nhánh Hoa hồng) theo như định nghĩa về rosids do hệ thống APG II đưa ra[2]. Một vài tác giả định nghĩa nhánh rosids rộng hơn, bao gồm cả Saxifragales như là nhóm cơ sở nhất của nhánh này[3]. Saxifragales là một trong tám nhóm hợp thành core eudicots (thực vật hai lá mầm thật sự phần lõi). Các nhóm khác là Gunnerales,DilleniaceaerosidsSantalalesBerberidopsidalesCaryophyllales và asterids[4].
Saxifragales có một hồ sơ hóa thạch rộng khắp[5][6][7][8][9][10]. Các thành viên còn sinh tồn dường như là những gì sót lại của một bộ trước đây từng rất đa dạng và phân bố rộng khắp[11].
Saxifragales, như hiện nay người ta hiểu, là dựa trên các kết quả của các nghiên cứu phát sinh chủng loài phân tử về các trình tự ADN. Nó không phải là một phần của bất kỳ hệ thống phân loại nào dựa trên hình thái học thực vật. Nhóm này quả thực cần có thêm nghiên cứu giải phẫu so sánh, đặc biệt là dưới ánh sáng của sự mở rộng gần đây của họ Peridiscaceae để bao gồm cả chiMedusandra, một chi mà trước năm 2009 thường đã từng không được đặt trong bộ Saxifragales[12].
Bộ này được chia thành các nhóm trên cấp họ như chỉ ra trong cây phát sinh chủng loài dưới đây. Các nhóm này là không chính thức và vì thế không có bậc phân loại cụ thể.

Danh sách các họ

  1. Họ Peridiscaceae
  2. Họ Paeoniaceae - Họ Mẫu đơn
  3. Họ Altingiaceae - Họ Tô hạp, bao gồm tô hạpsau sauphongtẩm)
  4. Họ Hamamelidaceae - Họ Kim lũ mai hay họ Kim mai, quen gọi là họ sau sau)
  5. Họ Cercidiphyllaceae
  6. Họ Daphniphyllaceae - Họ Vai
  7. Họ Crassulaceae - Họ Cảnh thiên, gồm các loài cảnh thiênlá bỏngthủy bồn thảo v.v)
  8. Họ Aphanopetalaceae
  9. Họ Tetracarpaeaceae
  10. Họ Penthoraceae
  11. Họ Haloragaceae
  12. Họ Iteaceae (bao gồm cả họ Pterostemonaceae theo tùy chọn của APG II).
  13. Họ Grossulariaceae - Họ Lý chua
  14. Họ Saxifragaceae - Họ Tai hùm
  15. Họ Cynomoriaceae