Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Họ Du - Ulmaceae

Họ Du (danh pháp khoa họcUlmaceae) là một họ thực vật có hoa bao gồm các loài du và cử. Trong quá khứ họ này được coi là bao gồm cả sếu (còn gọi là phác hay cơm nguội, thuộc chi Celtis và các họ hàng gần), nhưng phân tích của Angiosperm Phylogeny Group cho rằng các chi này nên được đặt trong họ Gai dầu (Cannabaceae) có lẽ chính xác hơn.
Các loài trong họ này phân bổ rộng rãi trong khu vực ôn đới thuộc Bắc bán cầu, nhưng khá thưa thớt ở các khu vực khác và có lẽ không có tại khu vực Australasia[1][2]. Định nghĩa đưa ra tại mục phân loại dưới đây là đề nghị của P. Stevens trên website củaAngiosperm Phylogeny Group tại Vườn thực vật Missouri và bao gồm cả thông tin từ Danh sách các họ và chi thực vật có mạch của Vườn thực vật hoàng gia Kew[2]. Theo APG, họ này chứad 6-8 chi và khoảng 35 loài.
Họ này là một nhóm các cây gỗ hay cây bụi với lá sớm rụng hay thường xanh có chứa các chất nhầy trong lá và vỏ cây. Lá của chúng là loại lá đơn với mép lá hoặc là trơn hoặc là có khía răng cưa và thường không đối xứng ở phần gốc lá, mọc so le, đôi khi sắp xếp thành hai dãy. Hoa nhỏ. Quả thuộc loại quả cánh hay quả hạch không nẻ. Chi Ulmus có nhiều loài cung cấp các loại gỗ quan trọng dùng chủ yếu vào đóng đồ gỗ. Loài du trơn (U. rubra) còn là một loại cây thuốc với các tính chất kháng viêm của lớp vỏ cây bên trong. Chi Planera chỉ có một loài cũng là cây cung cấp gỗ. Các chi PlaneraUlmus và Zelkova còn được trồng làm cây cảnh.
  1. Ampelocera Klotzsch (bao gồm cả Plagioceltis)
  2. Chaetachme Planch. (bao gồm cả Chaetacme)
  3. Hemiptelea Planch.
  4. Holoptelea Planch.
  5. Phyllostylon Benth.
  6. Planera J. F. Gmel. - du nước
  7. Ulmus L. - du
  8. Zelkova Spach. (bao gồm cả Abelicea) - cử

Táo Gai - Pyracantha - Firethorn




















Trianthema portulacastrum L. Sam biển, cỏ Tam Khôi. Aizoaceae. Họ Phiên hạch.– Desert Horsepurslane














Boerhavia

Boerhavia, the spiderlings or hogweeds, is a genus of about 40 species of annual or perennial herbaceous plants in the four o'clock flower family, Nyctaginaceae. The common name refers to the appearance of a spider or spider's web given by the numerous long, slender and interlocking stems of the inflorescences. The genus was named for Herman Boerhaave, a Dutch botanist, and the genus name is frequently misspelled "Boerhaavia".
They are native to mostly warm tropical areas.
  1. Boerhavia anisophylla Torr. – wineflower
  2. Boerhavia coccinea P.Mill. – scarlet spiderling
  3. Boerhavia coulteri (Hook.f.) S.Wats. - Coulter spiderling, Coulter's spiderling
  4. Boerhavia diffusa L. – red spiderling
  5. Boerhavia dominii Meikle & Hewson – tah-vine
  6. Boerhavia erecta L. – erect spiderling
  7. Boerhavia gracillima Heimerl – slim-stalk spiderling, slimstalk spiderling
  8. Boerhavia herbstii Fosberg – alena
  9. Boerhavia intermedia M.E.Jones – five-wing spiderling, fivewing spiderling
  10. Boerhavia linearifolia Gray – narrowleaf spiderling
  11. Boerhavia mathisiana F.B.Jones – Mathis' spiderling
  12. Boerhavia megaptera Standl. – annual spiderling, Tucson Mountain spiderling
  13. Boerhavia pterocarpa S.Wats. – Apache Pass spiderling
  14. Boerhavia purpurascens Gray – purple spiderling
  15. Boerhavia repens L.File:Starr 010520-0066 Boerhavia repens.jpg
  16. Boerhavia scandens L. – climbing spiderling, climbing wartclub, wishbone vine
  17. Boerhavia spicata Choisy – creeping spiderling
  18. Boerhavia triquetra S.Wats. – slender spiderling
  19. Boerhavia wrightii Gray – Wright's boerhavia












Nam sâm bò, Sâm đất, Sâm quy đầu.- Boerhavia diffusa L.

Vietnamese named : Nam sâm bò, Sâm đất, Sâm quy đầu.
English names : Pigweed, Hogweed, Red Spiderling, Spreading Hogweed, Wineflower
Scientist name : Boerhavia diffusa L.
Synonyms : Boerhavia repens L.
Family : Nyctaginaceae. Họ Bông Phấn

Sâm đất, Sâm nam, Sâm rừng, Sâm quy bầu - Boerhavia diffusa L. (B. repens L.), thuộc họ Hoa phấn - Nyctaginaceae.

Mô tả: Cỏ nằm rồi đứng, sống dai. Rễ mập, hình thoi. Thân mọc toả ra sát đất, màu đỏ nhạt. Lá mọc đối, có cuống, phiến xoan tròn dài hay hình bánh bò, mép lượn sóng, mặt dưới có nhiều lông màu trắng lục. Cụm hoa chùm mang xim 3 hoa không cuống. Các nhánh hoa có nhiều lông tròn dính vào quần áo. Hoa màu đỏ tía, có 1-2 nhị. Quả hình trụ, phồng ở đầu, có lông dính.

Ra hoa kết quả quanh năm, chủ yếu tháng 4-6.

Bộ phận dùng: Rễ và lá - Radix et Folium Boerhaviae Diffusae.

Nơi sống và thu hái: Loài liên nhiệt đới, mọc hoang khắp nơi, ở vườn, sân, bờ đường hay bãi cỏ... Thu hái rễ, lá quanh năm, đào rễ (tốt nhất vào mùa thu) và rửa sạch, phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học: Trong rễ có 0,01% một chất alcaloid có hoạt tính là punarnavine; alcaloid tổng số trong rễ là 0,04%; còn có một chất thơm, tinh bột, chất gôm, một chất dầu bay hơi, nitrat kalium.

Tính vị, tác dụng: Rễ có tác dụng lợi tiểu, nhuận tràng, làm long đờm, làm tăng lượng nước tiểu, nhưng với liều cao, có thể gây nôn mửa và làm ra nhiều mồ hôi. Nó có tác dụng vào hệ thần kinh như một tác nhân chống co giật. Lá có tác dụng hoạt huyết, giải độc.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ðược dùng chữa hen suyễn, đau dạ dày, phù thũng, thiếu máu, vàng da, cổ trướng, phù toàn thân, tiểu ít, táo bón thường xuyên, các bệnh về gan và lá lách; còn dùng trị viêm nhiễm bên trong và trị nọc độc rắn. Lá được dùng trị sang độc.

Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc hay thuốc hãm. Có thể tán bột uống. Có thể pha uống như trà (10g trong 1 lít nước sôi) nếu pha rượu thì chỉ dùng liều 2-5g bột rễ trong 1 ngày.





Chi Sâm mùng tơi- Talinum

Chi Sâm mùng tơi (danh pháp khoa họcTalinum) là một chi thực vật mọng nước thân thảo trong họ Talinaceae (trước đây đặt trong họ Portulacaceae). Một vài loài có lá ăn được, và loài Talinum fruticosum được trồng rộng khắp trong khu vực nhiệt đới để làm rau ăn lá. Sâm mùng tơi (Talinum paniculatum) còn được trồng làm cây cảnh.

Một số loài

  1. Talinum fruticosum (L.Juss.
  2. Talinum paniculatum (Jacq.Gaertn.[2]: Sâm mùng tơi, sâm đất, sâm thảo, thổ nhân sâm, thổ Cao Ly sâm.

Các loài trước đây thuộc chi này

  1. Calandrinia ciliata (Ruiz & Pav.DC. (như là T. ciliatum Ruiz & Pav)
  2. Phemeranthus mengesii (W.Wolf) Kiger (như là T. mengesii W.Wolf)
  3. Phemeranthus parviflorus (Nutt.) Kiger (như là T. parviflorum Nutt.)
  4. Lewisia pygmaea (A.GrayB.L.Rob. (như là T. pygmaeum A.Gray)
  5. Phemeranthus rugospermus (Holz.) Kiger (như là T. rugospermum Holz.)
  6. Phemeranthus spinescens (Torr.) Hershk. (như là T. spinescens Torr.)
  7. Montiopsis umbellata (Ruiz & Pav.) D.I.Ford (như là T. umbellatum Ruiz & Pav.)[2]














Sâm đất - Talinum patens L,

Talinum patens L, họ rau sam Portulacaceae
1.Mô tả cây sâm đất
Sâm đất là cây thân thảo, mọc đứng, thân nhẵn, phân nhánh nhiều ở dưới. lá mọc so le hình trái xoan thuôn hay trứng ngược, phiến lá dày, hơi mập, bóng cả 2 mặt, mép lá hầu như lượn sóng. Hoa nhỏ màu hồng. Quả nhỏ, khi chín có màu đỏ nâu hay xám tro, rất nhỏ, dẹt màu đen nhánh.
Sâm đất mọc hoang, có mặt khắp nơi Việt Nam, đặc biệt là ở vùng núi.
2. Sâm đất và công dụng chữa bệnh
Sâm đất là rau vị thuốc, bộ phận thường dùng là rễ và lá, lá thu hái quanh năm để nấu canh ( ăn ngon như rau mồng tơi).
Sâm đất thường dùng để bồi bổ cho cơ thể suy nhược, ra nhiều mồ hôi, ho do phổi ráo, đái dầm, kinh nguyệt không đều, thiếu sữa. Liều dùng : 30 – 35g dạng thuốc sắc. Ngoài ra có thể giã lá tươi đắp trị mụn nhọt.
Đơn thuốc dùng củ sâm đất : Bồi bổ cơ thể suy nhược, sưng phổi, kinh nguyệt không đều : Dùng mỗi lần 40 – 80 g củ, sắc uống. Hoặc dùng 20 30 g củ, phối hợp với các vị thuốc khác.
3. Hướng dẫn cách trồng sâm đất
Sâm đất có thể trồng từ hạt hoặc trồng từ mẫu thân hay mẫu rễ
3.1 Nguồn giống từ hạt
Hạt giống sau khi thu hái đươc xử lý bằng nước ấm ( 2 sôi + 3 lạnh) ngâm trong nước khoảng 6 – 8 giờ, vớt ra để ráo, dùng que nhọn chọc lỗ sâu 1cm rồi cho hạt vào ( 2-3 hạt/ lỗ), lấp kín đất, dùng lưới che nắng cho luống gieo.
3.2 Nguồn giống từ hom
- Chọn hom : Hom được lấy từ thân hoặc củ cây mẹ, lấy từ đoạn gốc đến hết phần bánh tẻ của thân, hạn chế lấy phần ngọn quá non, dễ bị thối gốc khi giâm.
- Dùng dao hay kéo sắc để cắt hom. Hom được cắt từ thân có chiều dài 10 – 20 cm và ít nhất trên mỗi hom có từ 3 – 4 mắt lá, tỉa bớt lá trên hom chừa khoảng 1/3 lá, đem giâm vào luống. Thường xuyên tưới ẩm. Sau khi giâm 10 -15 ngày hom giâm bắt đầu có rễ thì đem trồng.
3.3 Cách trồng
Sâm đất có thể trồng trên các luống đất với kích thước  rộng 1,2m x cao 10 – 20 cm, kích thước giữa các cây là 15 – 20cm. Cũng có thể trồng trong chậu hay thùng xốp.
- Đất trồng pha trộn theo tỉ lệ : 80% đất thịt + 10% tro trấu hoặc rơm mục+ 10% phân chuồng hoai.
3.4 Chăm sóc
Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho đất, đặc biệt vào mùa nắng hạn. Kết hợp nhổ cỏ dại và phòng trừ sâu xám ăn lá và chồi non.
3.5 Thu hoạch
Cây rau khi phát triển có chiều cao hoặc dài từ 20 – 30cm thì có thể cắt lấy rau. Dùng dao sắc cắt phần thân chồi lá non. Sau thu hoạch bón thúc bằng phân chuồng hoai mục hay phân trùn quế để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất và kích thích rau sớm đôt non mới. Nên thay thế và trồng mới hàng năm

Cyclea barbata (Wall.) được gọi là sương sâm rừng hay sương sâm lông

loài dây leo có tên khoa học là Cyclea barbata (Wall.) được gọi là sương sâm rừng hay sương sâm lông có lá hình quả tim và có lông, cũng có tác dụng làm thức uống và làm thuốc như cây sương sâm trơn. Loài này phân bố rộng hơn loài sương sâm trơn 

Cây Dây song bào - Diploclisia glaucescens (Bl.) Diels = Menispermun glaucum Lamk.

Cây Dây song bào
Tên khoa học: Diploclisia glaucescens (Bl.) Diels = Menispermun glaucum Lamk.







Cây Tiết dê lá dày, còn gọi là dây Châu đảo. Tên khoa học: Pericampylus glaucus (Lam.) Merr = Cocculus glaucescens Bl = Diploclisia macrocarpa (W.et A.) Miers.

Cây Tiết dê lá dày, còn gọi là dây Châu đảo.
Tên khoa học: Pericampylus glaucus (Lam.) Merr = Cocculus glaucescens Bl = Diploclisia macrocarpa (W.et A.) Miers. Cây này mọc ở Hà Giang, Hoà Bình, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế. Lá của nó dùng để làm thuốc cầm máu, chữa đau mắt, sốt, đau bụng, khó tiêu. Cây Tiết dê lá dày còn chứa alcaloit gây say.
 photo IMG_0994.jpg





Tiết Dê lông, Hồ Đằng lông, Dây Sâm lông, Sương Sâm lông-Cissampelos pareira L. var. hirsuta ( DC ) Ferman

Vietnamese named : Tiết Dê lông, Hồ Đằng lông, Dây Sâm lông, Sương Sâm lông.
English names :
Scientist name : Cissampelos pareira L. var. hirsuta ( DC ) Ferman
Synonyms : 
Family : Menispermaceae . Họ Tiết Dê
Tránh nhầm lẫn
Cây Tiết dê nói trên cần tránh nhầm lẫn với các cây sau:
- Cây Tiết dê lông hay Hồ đằng lông.
Tên khoa học: Cissampelos pareira L. var hirsuta (DC) Ferman. Lá có lông như nhung, mềm ở cả 2 mặt.
- Cây Tiết dê lá dày, còn gọi là dây Châu đảo.
Tên khoa học: Pericampylus glaucus (Lam.) Merr = Cocculus glaucescens Bl = Diploclisia macrocarpa (W.et A.) Miers. Cây này mọc ở Hà Giang, Hoà Bình, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế. Lá của nó dùng để làm thuốc cầm máu, chữa đau mắt, sốt, đau bụng, khó tiêu. Cây Tiết dê lá dày còn chứa alcaloit gây say.
- Cây Dây song bào
Tên khoa học: Diploclisia glaucescens (Bl.) Diels = Menispermun glaucum Lamk. Lá dài 5-10cm, rộng 6-11cm, đáy ngang hay lõm, có khi hình lọng, không lông, mặt dưới hơi mốc. Quả tròn dài 15mm hơi cong, màu vàng hay cam. Mọc ở vùng rừng còi hoặc ven rừng ở Đà Nẵng, Vọng Phu, Nha Trang, Cà Ná, Tây Ninh. Cây mọc từ thấp đến độ cao 1200m. Lá cây này dùng để trị gan ít mật.
**** VIETGLE
www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=NzhDMjBEMDgwQQ...
Cissampelos pareira L. var. hirsuta (DC.) Forman - Dây sâm lông.
Dây leo thảo, có thân và nhánh có lông mềm. Lá có phiến xoan hình tim, thường hơi có lông mịn ở cả hai mặt, dài 2 - 5cm, rộng 3 -6cm; gân chính 5; cuống lá dài bằng phiến hay hơi ngắn hơn, đính cách mép 1 - 5mm.
Hoa đực thành ngù lưỡng phân, có cuống, mọc đơn độc hay thành đôi ở kẽ các lá bắc hình lá; lá đài 3 - 4, đều, có lông; cánh hoa 4, dính thành chén nhỏ có cuống; bao phấn 4. Hoa cái mọc thành xim lưỡng phân hầu như không cuống ở kẽ lá bắc, lá bắc hình thận hay hình tròn; 1 lá đài, 1 cánh rộng hơn lá đài; lá noãn 1, có lông, đầu nhụy 3. Quả hạch chín hình cầu, đường kính 5mm, màu đỏ, hạch hình móng ngựa.
Phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Ở nước ta có gặp từ Tuyên Quang, Hà Tây, Khánh Hòa, Ninh Thuận vào các tỉnh Nam Bộ.
Cây mọc hoang trên đồi, ven rừng miền núi cũng như đồng bằng.
Ra hoa từ tháng 1 đến tháng 5, có quả từ tháng 4 đến tháng 6.
Nhân dân thường vò lá lấy chất thạch uống cho mát, cho lợi tiểu hoặc để chữa bệnh sốt. Rễ sắc lấy nước uống chữa bệnh đau bụng.
Ở Vân Nam ( Trung Quốc ), người ta dùng toàn cây trị đòn ngã tổn thương, vết thương do bị chèn ép và ngoại thương xuất huyết.