Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

15 loại Trái cây rừng...



  1. Xay rừng
  2. Trám rừng
  3. Hạt dẻ trùng khánh
  4. Mây thái
  5. Na rừng
  6. Me rừng
  7. Táo mèo
  8. Thảo quả rừng
  9. Quả tỳ bà
  10. Dâu rừng
  11. Mây rừng
  12. Mắc mật
  13. Hạt thông
  14. Thanh mai
  15. Sim rừng







Cá sủ vàng- Otolithoides biauritus


Cá sủ vàng, có tên khoa học là Otolithoides biauritus (còn được gọi là cá sủ vây vàng, cá sủ vàng kép, cá thủ sủ đất; có nơi gọi là cá sú vàng) là một loài cá biển quý hiếm được ví von như "cục vàng biển".
Cá sủ vàng có màu đen trên lưng, miệng rộng, thân thon dài. Thức ăn của cá thay đổi theo từng độ tuổi. Lúc nhỏ, cá ăn các loại ấu trùng hàu, nguyên sinh động vật, lớn lên chúng ăn tôm, cá nhỏ. 
Cận cảnh loài cá được mệnh danh là "cục vàng biển" ở Việt Nam
Tiến sĩ Nguyễn Đức Cự, người có nhiều năm nghiên cứu để ra đời đề tài khoa học về loài cá quý hiếm này thông tin trên VOV Giao thông: "Đây là loài cá có giá trị kinh tế đặc biệt cao, giá trị thương mại trước năm 2005 tại Việt Nam dao động trong khoảng 5- 7 triệu đồng /kg (300 - 400USD/kg) và năm 2007 khoảng 15 – 20 triệu đồng/kg".Theo VOV Giao thông, bóng của loài cá này được sử dụng làm chỉ khâu tự tiêu trong y học. Giá bóng cá Sủ vàng tươi có giá 45.000 - 55.000USD/kg tươi tuỳ theo độ dài của bóng và cá có trọng lượng 40 - 50kg thì bóng đạt khoảng 1kg tươi. Món ăn từ loài cá này được liệt vào hàng "cao lương mỹ vị". 































Bình bát , nê, na xiêm- Annona reticulata

Bình bát hay còn gọi là nê, hoặc na xiêm, tên khoa học là Annona reticulata, một số ngôn ngữ châu Âu gọi là tim bò, tiếng Hindi gọi là sitaphal, tức quả Sita, là một loài thực vật thuộc chi Na (Annona), có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới của Tân Thế Giới (châu Mỹ,bao gồm Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Mỹ và Caribe cũng như các đảo xung quanh).
Cây bình bát là cây gỗ nhỡ, sớm hay nửa rụng lá. Thân cao 2 – 5 m, thậm chí đến 10 m. Lá đơn, mọc so le, nhọn hai đầu, có 8 - 9 cặp gân phụ, dài 10–15 cm và rộng 5–10 cm. Hoa vàng, hai vòng cánh, nhiều nhị đực và tâm bì.

Bình bát,cây bình bát,cây nê,na xiêm,cây tim bò,annona reticulata,quả bình bát
Bình bát

Quả hình tim (quả kép, như các loại na), mặt ngoài có từng ô 5 góc mở; thịt quả trắng hoặc hơi hồng, ăn được, nhưng không ngon như na hoặc mãng cầu xiêm, vì vị hơi chát, ít ngọt và không thơm. Quả xanh (8 - 12g) thái mỏng phơi khô, sắc uống chữa sốt, tiêu chảy, kiết lỵ, giun sán, nhiễm khuẩn hô hấp. Hạt có tính sát khuẩn. Quả bình bát(na xiêm) ngoài vị ngọt thanh còn chứa: vitamin C giúp chống gốc tự do gây lão hóa sớm; vitamin A giúp da và tóc khỏe, hỗ trợ thị lực; vitamin B6, magnésium, potassium, chất xơ tốt cho hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, có tác dụng lợi tiểu và giảm trầm cảm; có tính giảm co thắt, giảm a xít tại các khớp xương,giúp trị bệnh huyết trắng ở phụ nữ.

Bình bát,cây bình bát,cây nê,na xiêm,cây tim bò,annona reticulata,quả bình bát
Bình bát

Phân bố

Cây bình bát thường phổ biến ở vùng đất thấp, có khí hậu nóng và ẩm. Loài này thường mọc hoang tại nhiều khu vực trên thế giới như Ấn Độ, Úc và châu Phi. Tại Việt Nam, thường mọc ven bờ kênh, rạch có nước phèn, nước lợ ở Nam Bộ và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Do chịu được phèn nên có thể làm gốc ghép cho mãng cầu xiêm.

Bình bát,cây bình bát,cây nê,na xiêm,cây tim bò,annona reticulata,quả bình bát
Quả bình bát xanh

Bình bát,cây bình bát,cây nê,na xiêm,cây tim bò,annona reticulata,quả bình bát
Quả bình bát chín

Ngoài tác dụng cho quả ăn, cây bình bát còn được trồng để chống được sạt lở bờ đê, kênh rạch, chắn sóng, do cây bình bát lớn nhanh, sống lâu, bộ rễ khá phát triển, rễ ăn xuống theo chiều sâu lẫn vươn xa nên bám chắc rất tốt, đặc biệt sau mỗi lần cắt ngọn, gốc thân và cả bộ rễ càng phát triển.

Bình bát trong y học dân gian

Toàn cây bình bát có vị chát, có độc đặc biệt là hạt và vỏ thân, có tác dụng sát trùng. Quả xanh có tác dụng làm se, trừ lỵ, trị giun.

Một số bài thuốc :

- Nước sắc lá để trị bệnh giun sán hoặc giã nát đắp mụn nhọt, áp xe và loét.
- Ăn nhiều quả bình bát, trị được bệnh khí hư (huyết trắng) ở phụ nữ, chứng thiếu máu.
- Quả bình bát xanh có chứa nhiều tanin, được sấy khô, nghiền thành bột dùng chữa tiêu chảy và bệnh lỵ.
- Vỏ cây giã nát dùng đắp quanh nướu răng để làm giảm nhức răng.
- Nước sắc vỏ cây bình bát được dùng như thức uống giải nhiệt.
- Hột bình bát từ những quả già, giã nhỏ, nấu với nước làm nước gội đầu (không nên để nước bắn vào mắt), hoặc ngâm quần áo để trừ chí, rận.
- Hột bình bát đốt thành tro, trộn với dầu dừa bôi chữa trị ghẻ.

Chú ý : Cây có độc, tránh để nước của các bộ phận của cây bắn vào mắt sẽ rất nguy hiểm. Nhựa cây bình bát có tính chất kích ứng ngoài da, có thể giải độc bằng dịch quả chanh.
Mấy hôm nay bình bát quê tôi đang vào mùa chín rộ.
 Mấy hôm nay bình bát quê tôi đang vào mùa chín rộ. Bình bát là loại cây mọc hoang và xuất hiện ở khắp mọi nơi: bờ sông, góc vườn, bờ đê… Những ngày này đi đâu cũng thấy một màu vàng ươm của những trái bình bát chín cây treo lủng lẳng trên cành.

1309083608
Một thời, bình bát là món ăn khoái khẩu của lũ trẻ nghèo chúng tôi. Và đến tận bây giờ vẫn thế! Trái bình bát dầm đường vẫn là một món ăn thân thuộc của người dân miền Tây.

1309083612
Trái bình bát còn sống có màu xanh khi chín chuyển sang màu vàng và có một mùi thơm rất đặc trưng. Theo kinh nghiệm thì sau khi hái bình bát từ trên cây xuống nên đem vú khoảng một ngày cho bình bát chín mùi ăn mới ngon. Bình bát chín đem gọt vỏ, bỏ cùi, tách nhỏ rồi dùng muỗng dầm ra. Sau đó cho thêm vào vài muỗng đường. Nếu muốn ăn lạnh thì bỏ vào một ít đã nhuyễn.

Trái bình bát còn sống
Giữa những ngày hè nóng nực thế này mà được thưởng thức một ly bình bát trộn đá đường thì còn gì bằng. Ngon không thể tả!!!
1309083612




Cây vú chó- Ficus heterophyllus L.

CÂY VỌT



CÂY THUỐC NAM (60)
---o0o---
60. Cây vọt
Tên khác : Cây vú chó.

Tên khoa học ; Ficus heterophyllus L. , họ Dâu tằm (Moraceae).Cây mọc hoang ở các vùng đồi núi nước ta.
Bộ phận dùng : Rễ, nhựa mủ, phần trên mặt đất.

Thành phần hóa học chính: Nhựa, flavonoid.

Công dụng, liều dùng:

Chữa phong thấp: ngày dùng 15-20g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu. Mỗi lít rượu ngâm 100-200g rễ sao vàng, mỗi ngày uống 15-20ml rượu này.
Chữa ngã bị ứ huyết, ngực bụng đau nhức, hòn cục: toàn cây Vú bò giã nát, thêm rượu và ít muối, sao nóng đắp lên nơi đau.
Chú ý : Rễ cây này thường gọi là Hoàng kỳ nam dùng thay thế Hoàng kỳ và còn dùng chữa ho, phong thấp.

Cây độc lực, Đơn tướng quân, Cây lá khôi, Khôi nhung, Khôi tía-Ardisia sylvestris Pitard.

Cây khôi
Tên khác : Cây độc lực, Đơn tướng quân, Cây lá khôi, Khôi nhung, Khôi tía.
Tên khoa học : Ardisia sylvestris Pitard., họ Đơn nem (Myrsinaceae).
Cây mọc hoang ở những khu rừng rậm miền thượng du như Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình…
Bộ phận dùng : Lá.

Thành phần hóa học chính: Tanin.

Công dụng : Chữa đau dạ dày.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày uống 40-80g, sắc uống phối hợp với các vị thuốc khác.

cây lá ngón-Gelsemium elegans

Cây lá ngón, còn gọi là cây rút ruộtco ngónhồ mạn trườnghồ mạn đằnghoàng đằngđoạn trường thảocâu vẫn v.v., có danh pháp hai phần là Gelsemium elegans, trước đây được phân loại trong họ Mã tiền (Loganiaceae), nhưng từ năm 1994 đến nay được cho là thuộc họ mới là họ Hoàng đằng (Gelsemiaceae).
Đứng đầu bảng trong các loài cây độc và có rất nhiều ở vùng rừng núi là cây lá ngón. Loài cây này có hoa rất đẹp, nở màu vàng cam rực rỡnên nhiều người nếu không biết sẽ thích thú ngắt hoa chụp ảnh. Tuy nhiên, chỉ cần ngắt lá, bẻ cành, để chất nhựa độc dính vào tay rồi vô tình tiếp xúc với đồ ăn, vết thương hở, lập tức các độc tính sẽ gây ra triệu chứng khát nước, đau họng, chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn… sau đó là mỏi cơ, giảm thân nhiệt, hạ huyết áp, răng cắn chặt, sùi bọt mép, đau bụng dữ dội, tim đập yếu, khó thở, đồng tử giãn và chết rất nhanh do ngừng hô hấp. Mức độ độc của cây giảm theo thứ tự: rễ, lá, hoa, quả, thân cây.Tuy độc nhưng sử dụng đúng cách, lá ngón lại có nhiều…công dụng tốt, được dùng trị: Eczema nấm ở chân, ở thân. Ðòn ngã tổn thương, đụng giập; Trĩ, trang nhạc; Ðinh nhọt và viêm mủ da; Phong hủi. Giã cây tươi đắp ngoài, hoặc nấu nước rửa ngoài. Không được dùng uống trong. Còn dùng diệt giòi bọ, sát trùng.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.
Lá ngón vị đắng, cay, tính nóng, rất độc.Nơi mọc: Cây mọc hoang ở các vùng núi cao ở Hà Giang, Tuyên Giang, Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hoà Bình đến các tỉnh Tây Nguyên. Thu hái rễ quanh năm thường dùng tươi, hoặc phơi khô.
Nước của rau má tươi nguyên cây rửa sạch và giã nát có thể giải độc lá ngón, hoặc giã nhỏ cây rau muống lấy nước uống, hoặc cho nạn nhân uống nước phân trâu, phân bò để nôn độc tố ra…

Cây bìm bịp,cây xương khỉ, cây mảnh cọng- Clinacanthus nutans (Burm.f.)

Cây còn có tên gọi: cây xương khỉ, cây mảnh cọng. Tên khoa học: Clinacanthus nutans (Burm.f.) Lindau. Thuộc họ Ô rô Acanthaceae. Cây có nguồn gốc châu Á nhiệt đới, mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở Việt Nam làm thuốc hoặc lấy lá hấp bánh, đồ xôi để có mùi thơm riêng biệt
[​IMG]

Theo dân gian rau có tên bìm bịp là vì: Khi bìm bịp con mới nở nếu bị gãy chân, thì thấy chim mẹ cắn lá cây này về đắp chim con cho lành xương nên có tên gọi như trên.
Theo y học cổ truyền, rau bìm bịp có tác dụng: Chữa trị bệnh gút, giảm đau, hạ sốt, chống viêm, điều kinh. Người dân thường dung lá thân tươi giã nhuyễn chữa sưng đau, cầm máu, bong gân, gẫy xương kín,…
Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng có trong rau tại Trung tâm III thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng cho thấy :
+ Hàm lượng đạm tính theo khối lượng (%) : 3,2
+ Hàm lượng chất béo tính theo khối lượng(%) : 1,1
+ Hàm lượng chất sơ tính theo khối lượng (%) : 1,4
+ Hàm lượng canxi(mg/100g) : 147
Như vậy có thể thấy thành phần dinh dưỡng trong rau bìm bịp khá là cao.
Cách dùng : Rau bìm bịp thường dùng ăn kèm với lẩu cá, lẩu thịt hoặc nấu canh với thịt bằm, canh tôm, canh cua rất ngon và giàu dinh dưỡng

Cây giao -Euphorbia tirucalli

Cây giao mọc hoang nhiều nơi, ở thôn quê cây có thể dùng làm hàng rào. Dân gian thường dùng chữa bệnh viêm xoang mũi. Hiện nay ở đâu cũng có nhiều người săn tìm mua cây giao chữa viêm xoang. Nhưng mấy ai biết được cây giao hay còn gọi là cây xương cá được xếp vào nhóm kịch độc.
Hình ảnh cây giao - cây xương cá chữa bệnh viêm xoang
Hình ảnh cây giao – cây xương cá chữa bệnh viêm xoang
Cách sử dụng cây giao chữa viêm xoang khá đơn giản. Nhưng trong phạm vi bài viết này mình chỉ giới thiệu về dược tính của cây giao mà thôi vì đây là vấn đề quan trọng bạn cần phải biết. và sử dụng cây giao như thế nào thì mình sẽ có một bài viết khác cụ thể hơn. Mời bạn tiếp tục.
“Cây giao có tên quốc tế là  Euphorbia tirucalli, thuộc họ Euphorbiaceae, việt nam gọi là cây xương khô do tượng hình gầy gò không lá hoặc ít lá.
Cây có nguồn gốc ở vùng Phi Châu nhiệt đới, nổi bật nhất là vùng đông bắc, miền trung, nam Phi Châu và Ấn Độ, nhưng hiện nay được lan rộng nhập tịch hóa trong tất cả những vùng nhiệt đới bán khô hạn đến những vùng địa trung hải ít nóng. Thường trồng như cây cảnh.
Cây xương khô có đặc điểm sản xuất chất mủ như sữa dính, chảy ra khi cây bị tổn thương, trong đó có một số sử dụng trong thế giới hiện nay, một trong những sử dụng nổi tiếng là đốt mụn cóc và những vấn đề về da.
Mặc dù không có sự ủng hộ của giới chuyên gia y học, nhựa trắng latex của cây vẫn thỉnh thoảng còn được sử dụng để loại bỏ những ung bướu ở da.”
Trích:Tài liệu nước ngoài
Có thể do khác biệt về khu vực về khoa học công nghệ. một bên thiên về y học hiện đại và một bên thiên về y học dân tộc chủ yếu sử dụng cây cỏ để trị bệnh. nhưng những thống kê chi tiết về dược tính không thể không chú ý. Các bộ phận của cây giao thường được sử dụng là thân, lá, hạt và chất mủ trắng.
Hình ảnh hoa cây giao chữa bệnh viêm xoang

“Họ của cây xương khô, Euphorbiaceae, là một chuỗi dài danh sách các cây dược thảo và ĐỘC HẠI. Giống Euphorbia được xem bởi những thổ dân Nam Phi đồng nghĩa với danh từ chất độc.
Chất mũ trắng latex của một số loài của giống Euphorbia được dùng như thành phần CHẤT ĐỘC TẨM TÊN và chất mủ latex này có thể có thể kết tinh thành tinh thể nguyên chất euphorbon, không được xem như là nguyên nhân của những HOẠT ĐỘNG KÍCH ỨNG (Watt et Breyer Brandwijik, 1962).
Euphorbon là thành phần hoạt động của chất mủ trắng latex của euphorbia gây ra độc tính. Chất nhựa là một thành phần glucosides phức tạp, chất résine, gôm và nguyên chất đắng. Đặc tính này khác nhau ở các loài.
Đây là chất kích ứng nghiêm trọng đặc biệt đối với màng nhày, chủ yếu là đặc tính diệt loài nhuyễn thể của nó.
Các tác gỉa cũng cho biết nguyên tắc của sự kích ứng có thể là do độc chất thực vật phytotoxine với những đặc tính “ hémagglutination ” là một hình thức cụ thể của sự kết tập những hồng huyết cầu. Có 2 cách sử dụng phổ biến nhất của đặc tính này trong phòng thí nghiệm là :
– xác định loại máu,
– định lượng của sự pha loãng vi trùng virus.”
Trích: Tài liệu nước ngoài
Cây xương cá - cây giao mọc ở đâu
Cây xương cá – cây giao mọc ở đâu
Chất mủ của cây giao khi tiếp xúc với da gây bỏng da và kích ứng. Nếu nuốt phải sẽ gây phỏng, kích ứng màng miệng, buồn nôn, ói mửa hoặc tiêu chảy. Những chất hóa học trong cây giao có khả năng làm tổn thương mắt do sự tiếp xúc với chất mủ trắng. Với một lượng nhỏ, cây xương cá, cây giao sẽ là liều thuốc xổ. Nhưng với liều lớn sẽ gây kích ứng và buồn nôn.
Hoạt chất của cây có thể tương tác với các thuốc loại hormon thay thế, phụ nữ đang dùng hormon trong giai đoạn mãn kinh hoặc dùng thuốc tránh thai cần tránh sử dụng. Vì vậy! khi dùng cây giao chữa viêm xoang cần hết sức chú ý.




hoa vô ưu-Couropita Guianensis

Hoa Sala hay Tha la, còn gọi là hoa đầu lân mang ý nghĩa thiêng liêng đối với Phật Giáo Nguyên Thủy và Nam Tông, gắn bó với những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật Thích Ca.


Như cây Bồ Đề trong Phật Giáo Đại Thừa, Sala thường trồng trong các sân chùa Nam Tông ở Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào và một số chùa Khmer Nam Bộ. Tín đồ Hindu Giáo Ấn Độ cũng xem cây sala thiêng liêng và thường trồng nơi đền thờ thần Shiva.


Do kết cấu cả chùm hoa trông giống rắn thần (naga), mỗi bông là đầu và miệng phùng mang che phần nhụy trung tâm có hình một lingam của thần Shiva và nhiều shivalingam nhỏ bao quanh, nên được gọi là Nagalingam hay “hoa Shivalingam”.



Hình tượng này làm ta liên hệ đến con rắn hổ mang chín đầu bảo vệ Đức Phật trong lúc ngài ngồi nhập định 49 ngày dưới cội cây bồ đề.


Hoa sala có mùi rất thơm, hương tỏa xa thanh thoát, được xem là loài hoa vô ưu hay ưu đàm. Sala nở rộ tượng trưng cho Phật Pháp (Dharma), và Đức Phật cuối cùng đã chọn giữa bóng hai cây này (song thọ) để nằm nghỉ và đi vào Niết Bàn


Trong phù điêu nghệ thuật Phật Giáo thường mô tả thân mẫu Đức Phật là Hoàng Hậu Maya sinh nở trong vườn Lumbini, khi bà đưa cánh tay phải lên vịn cành hái một đóa hoa sala và đã hạ sinh Thái Tử Siddhartha. Hoa sala mọc từng chùm trực tiếp từ thân cây chứ không mọc từ cành hay ngọn như những loài hoa khác, khiến ta có thể lý giải về biểu tượng Đức Phật được sinh ra từ cạnh sườn của Hoàng Hậu Maya.


Hình tượng nữ Yashi (Dạ xoa) thân thể với vẻ đẹp lý tưởng đầy gợi cảm, nàng đang đứng dưới bóng cây sala với bàn tay phải với lấy cành cây, thường thấy mô tả trong nghệ thuật điêu khắc cổ.

Thuật ngữ salabhanjika nguyên thủy gắn bó với lễ hội phồn thực “hái hoa sala”, điêu khắc thể hiện những hình tượng đồng nhất người nữ với cây, nhất là cây hoa sala. Ở Ấn Độ, ngày nay cây sala vẫn được thờ cúng, đặc biệt với những cặp hiếm muộn.

Sala có thể mọc cao lên đến 15m, tên khoa học là Couropita Guianensis, thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae) . Hoa chỉ mọc từ thân chính, có màu cam lẫn đỏ thắm và hồng, và mọc thành chùm trên cọng dài có khi tới 3m.


Quả to tròn màu xám (hình thù như trái đạn thần công nên tên tiếng Anh còn gọi là Canon-ball tree) có mùi hắc khó ngửi, muốn trồng thành cây phải đợi hạt bên trong thối đi mới nảy mầm, rồi bổ quả thối ra để lấy hạt trồng. Quá trình này diễn ra đúng theo quan niệm phồn thực về sinh, diệt và tái tạo trong Ấn Giáo.



Trong văn chương, bài thơ Đây Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh, mô tả một xóm đạo thuộc vùng nổi tiếng về “cây ngọt trái lành” ở Tây Ninh, cho thấy có sự giao thoa giữa các đạo Hindu, Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo ở một vùng đất vốn thuộc văn hóa Khmer.


Thuật ngữ “sala song thụ” trong tiếng Phạn nghĩa là sự kiên cố. Khi Phật nhập diệt, hai cây “sala song thụ” cũng như người, chúng đau buồn và lá đều biến thành màu trắng như một rừng chim hạc.











Kinh Đại Bát Niết Bàn kể rằng trên đoạn đường cuối cùng trong chuyến vân du về Câu Thi Na (Kushinagara) cùng với A Nan Đa, vị thị giả của mình, Đức Phật bảo: “Này A Nan Đa, ta cảm thấy mệt mỏi quá và muốn nằm nghĩ, hãy trải tấm tọa cụ ra giữa hai cây sala, đầu hướng về phương Bắc”.

Và khi Ngài nằm xuống thì hai cây sala bỗng nở hoa mặc dù lúc đó không phải là mùa ra hoa. Rồi những đóa hoa tươi thắm làm thành một cơn mưa hoa ngọt ngào, dịu mát như để tiễn đưa đấng Đạo Sư về với cảnh giới chân như muôn thuở.