Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Gỗ Gù hương -Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn


Công dụng của Gù Hương


Gỗ Gù hương là theo tên gọi ngoài Bắc . Với Miền Nam thường gọi là Xá xị. Gù Hương cũng như long não, tinh dầu, dầu hạt được dùng chữa đau tê thấp. 

Gỗ Gù hương là theo tên gọi ngoài Bắc . Với Miền Nam thường gọi là Xá xị . Cũng có hai loại . Gỗ Gù hương đỏ mầu sẫm đỏ vân gỗ rất đẹp . Loại này chỉ tìm thấy ở vùng rừng núi Quảng ninh . Còn đại đa số ở vùng miền còn lại Gù Hương có mầu vàng nhạt sám pha chút sắc xanh ...
Gù Hương bị Thực dân Pháp khai thác từ xưa nên trong tự nhiên đa phần chỉ tìm thây ở dạng Lũa hoặc Gỗ tận dụng . Dạng gỗ ván với đường kính to rât hiếm ...

Vù hương, Gù lương, Re dầu, Re hương, Xá xị - Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn., thuộc họ Long não -Lauraceae.

Mô tả: Cây gỗ lớn, cao tới 25m, nhánh non không lông, đen đen. Lá có mùi sả, có phiến bầu dục, dài 6-12cm, rộng 3-6cm, đầu thon, gốc tù không có gân gốc phát triển rõ rệt, gân phụ 6-8 cặp, cuống dài 2-3cm. Chùy hoa ở nách lá, ngắn hơn lá. Hoa nhỏ màu lục trắng, bao hoa và nhị lép có lông thưa ở gốc. Quả xoan dài 8-9mm, màu đen, trên đài tồn tại hình chén có thùy cạn.

Hoa tháng 3-4 quả tháng 7-8.
Bộ phận dùng: Rễ, thân, lá, quả - Radix, Caulis, Folium et Fructus Cinnanomi Parthenoxyli. Ở Trung Quốc, có tên là Hoàng chương, Hương chương.
Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc từ Cao Bằng, Quảng Ninh, Quảng Trị tới Quảng Nam - Ðà Nẵng.
Thành phần hóa học: Lá, gỗ thân, gỗ rễ chứa tinh dầu; hạt chứa nhiều dầu béo.
Tính vị, tác dụng: Vị hơi đắng, cay, tính ấm. Rễ, thân có tác dụng ôn trung tán hàn, tiêu thực hóa trệ. Lá có tác dụng cầm máu. Quả có tác dụng giải biểu thoát nhiệt.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cũng như long não, tinh dầu, dầu hạt được dùng chữa đau tê thấp. Nước pha rễ dùng thay xá xị.
Ở Trung Quốc, rễ, thân dùng trị cúm, cảm mạo, ăn uống không tiêu bụng đầy trướng, đau dạ dày, viêm khớp xương do phong thấp, tiêu hóa không bình thường, ho gà, lỵ. Còn lá dùng trị ngoại thương xuất huyết, quả dùng trị cảm mạo sốt cao, bệnh sởi. 


Công dụng và liều dùng gỗ Gù Hương
Ở nước ta chưa thấy sử dụng vỏ, gỗ thân hay tinh dầu xá xị làm thuốc. Chỉ mới thấy sử dụng tinh dầu để chế nước xá xị uống giải khát, tiêu cơm. Tại Malaysia, người ta dùng gỗ cây làm thuốc bổ cho các em gái lúc tuổi dậy thì. Tại Giava, người ta dùng tinh dầu xoa bóp chữa thấp khớp, đau nhức.

Theo những tài liệu được công bố về công thức cao nước xá xị thì thành phần chính trong nước xá xị là cao thổ phục linh, cao cam thảo được dùng làm chất thơm với một tỷ lệ rất thấp salixylat metyl, tinh dầu tiểu hồi, tinh dầu Sassafras. Tinh dầu sassafras được cất từ vỏ thân và vỏ rễ cùng gỗ thân và gỗ rễ cây Sassafras officinalis L., chưa thấy ở nước ta. Hàm lượng tinh dầu trong vỏ lên tới 6%, còn trong gỗ chỉ có 2%. Tinh dầu rất lỏng, nặng hơn nước (tỷ trọng 1,070-1,076, chứa tới 80% safrol ête metylenic của allylpyrocatechin) kèm theo pinen, phellandren, một ít eugenol và long não. Tại các nước châu Âu và châu Mỹ, Sassafras được dùng làm thuốc ra mồ hôi, chữa thống phong, phong thấp. Tinh dầu được làm hương cho xà phòng thơm rẻ tiền và làm nguyên liệu chiết safrol. Từ safrol oxy hóa bằng kali permanganat sẽ được ête metylic của aldehyt protpcatechic có mùi heliotrope dùng trong hương liệu với tên heliotropin hay piperonal.

Sự khác nhau giữa gổ Hương và Gù Hương?




Gỗ Hương có hai loại Hương huyết và Hương thông . Hương huyết mầu đỏ sẫm như gỗ Trắc . Thớ gỗ trắc mịn vân đẹp . hương thông màu nhạt thớ gỗ xốp giá trị thấp hơn hương huyết rất nhiều ...
Gỗ Gù hương là theo tên gọi ngoài Bắc . Với Miền Nam thường gọi là Xá xị . Cũng có hai loại . Gỗ Gù hương đỏ mầu sẫm đỏ vân gỗ rất đẹp . Loại này chỉ tìm thấy ở vùng rừng núi Quảng ninh . Còn đại đa số ở vùng miền còn lại Gù Hương có mầu vàng nhạt sám pha chút sắc xanh ...
Sự khác biệt giữa hai loại Hương và Gù Hương là khá rõ nét . Gù hương thơm ngào ngạt .Tom Gỗ xốp... Mầu rất xấu bề mặt loang lổ sám xịt một thời gian sau khi phun PU hoặc đánh Si vecny bởi do lượng tinh dầu trong Gỗ rất lớn gây ra phản ứng đó. Gù hương nứt nẻ rất nhiều khi thời tiết hanh khô . Gù Hương bị Thực dân Pháp khai thác từ xưa nên trong tự nhiên đa phần chỉ tìm thây ở dạng Lũa hoặc Gỗ tận dụng . Dạng gỗ ván với đường kính to rât hiếm ...
Gỗ Hương thớ mịn vân đẹp mầu vàng hoặc đỏ tươi rất Mặt Gỗ đẹp rực rỡ khi được đánh xi và sơn PU . Được đặt tên là Hương nhưng bản thân gỗ Hương chả có mùi gì cả ... . Gỗ Hương được biết đến với độ ổn định rất cao không cong vênh nứt vỡ với thời tiết hanh khô . Gỗ hương được ưa chuộng và khai thác nhiều mây năm chở lại đây nên trong thị trường gỗ dạng Hộp Ván đường kính 1 m trở lên vẫn còn rât nhiều ...
Ở những cơ sở gia công gỗ chuyên nghiệp vẫn thường có hệ thống Lò Sấy để sử lý Gỗ tươi . Với lò Sấy là cách sử lý gỗ theo tình thế đốt cháy thời gian kiểu công nghiệp dù sao cũng không thể nào ưu viêt hơn cách thủ công truyền thống là phơi ngoài mưa nắng với năm tháng ...
Không có quý định chung theo mẫu chuẩn là Gỗ phải phơi bao nhiêu thời gian mới tốt cả . Hiểu nôm na là càng lâu càng ổn định càng tốt ( Lưu ý không lâu cỡ vài chục năm để làm mục Gỗ ) ... Cũng chính vì yếu tố thời gian đó mà vài năm chở lại đây Tượng thế được khai thác từ gỗ Lũa hoặc gốc rễ được thị trường nồng nhiệt đón nhận . Gỗ đã được tôi luyện trong đất nước và trong tự nhiên hàng vài chục năm khi làm thành sản phẩm tạo ra độ bền rất cao không cong đao. Mối Mọt cũng bó tay ...
Mặt Bếp là nơi tiêp xúc với mỡ mắm dao thớt nhiệt nóng từ mặt bếp Ga vậy nên đa phần được làm từ Đá grannis là loại đá cứng trắc độ bóng cao dễ lau rửa . Ở đây Gỗ nên chằng chỉ làm Tủ bếp đựng bát đĩa thì thích hợp hơn . 
Nếu có phải lựa chọn giữa hai loại gỗ Hương và Gù hương làm mặt bếp thì sự ưu việt là 50/50 . Gỗ Hương chịu nhiệt ít nứt vỡ nhưng không chịu được được độ ẩm ướt cao . Gù Hương có lượng tinh dầu rất cao nên có thể ngâm trong đât trong nước hàng trăm năm nhưng lại vỡ toác khi gặp nóng ...
Giải pháp cuối cùng khuyên Bạn là không nên làm mặt bếp bằng bất kể loại Gỗ nào Bạn ạ !
Trên thị trường thời điểm này gỗ Hương khẩu độ to làm mặt Bàn mặt ghế giá khoảng 7 tới 80 triêu 1 m3 . Gỗ làm khung xương 40 triệu 1m3 . Gỗ lũa gốc rễ tận dụng 20 nghìn 1 kg ...
Gỗ Gù Hương vì không có ván nên đơn vị m3 không được tính . Gỗ gốc rễ tân dụng từ 15 tới 20 nghìn 1 kg .... 

cây xá xị (Smilax regelii, thuộc Chi Khúc khắc)

Xá xị hay Sá xị, là một loại nước giải khát tạo hương vị từ nước chiết rễ cây xá xị (Smilax regelii, thuộc Chi Khúc khắc), được dùng rộng rãi ở một số quốc gia trên thế giới. Nước xá xị thường được sục thêm khí cacbonic, thêm có màu sắc giống với cola nhưng có hương vị đặc trưng riêng.
Tên gọi này có lẽ là do phiên âm từ tiếng Trung của 沙示 (Hán Việtsá thị) hay 沙士 (sá sĩ) hay là sarsi trong tiếng Anh.
Trước đây, cây xá xị thường chỉ được khai thác lấy gỗ xây dựng, gần đây nhân dân một số tỉnh phía Nam mới khai thác cất từ vỏ thân và gỗ thân một loại tinh dầu mùi thơm dùng pha chế nước uống và làm thuốc. Trong gỗ thân và rễ xá xị có từ 1-2% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dịu, thành phần chủ yếu của tinh dầu là safrol với tỉ lệ 75%.













































LỊCH SỬ CỦA NU – QUÀ TẶNG CỦA THIÊN NHIÊN

Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì Nu là gỗ có vân xoăn đẹp ở bướu to của một số cây gỗ quý, dùng làm bàn nghế, đồ mỹ nghệ.
Nu còn có những cách gọi khác nhau là : núm, nụm. Thực chất đây là sự phát triển riêng biệt của loài cây thân gỗ, khi cây gỗ bị thương tật như sâu bệnh, sét đánh, chặt chem., làm xây xước thân cây… lúc đó cây sẽ sinh ra chất dinh dưỡng đồn tích để nuôi dưỡng phần bị thương tật ấy lành trở lại. Do đặc điểm sinh lý và lý do bảo tồn sự phát triển tự nhiên của cơ thể sống mà dinh dưỡng hấp thu được từ đất, không khí đã tập trung với mức độ cao vào những nơi thương tật làm cho nó phát triển khác thường với những nơi khác. Vì thế mà chỗ thương tật phình ra thành bươu, mức độ lớn của bươu phụ thuộc vào khả năng hấp thụ dinh dưỡng, thời gian sinh trưởng của cây. Thường thì bướu có đường kính to hơn đường kính thân cây chủ. Nói thế không có nghĩa là muốn có nu thì tạo ra thương tích trên cây là được. Thực tế là tỷ lệ thành bướu rất thấp, có khi hàng trăm cây mới được một cây có nu, quá trình hình thành bươu tạo ra ni giống như trầm hương trên thân cây đó.
Một số sản phẩm được làm từ Gỗ Nu:
Nu Hương
Ngày xưa khi người Pháp đến Việt Nam, họ đã biết tiềm năng nu gỗ của núi rừng nhiệt đới nước ta, họ bắt đầu tiến hành chương trình trồng cây gỗ để có thu hoạch nu vào thời gian 60 năm sau. Đầu tiên họ chọn những cây gỗ có đường kính từ 30 đến 40 cm cưa ngang mặt đất, chờ cây mọc chồi, chặt bỏ để lại 1 đến 2 chồi. Năm sau lại chặt bỏ chồi cũ giữ chồi mới, cứ thế liên tiếp trong nhiều năm, cây không chết nhưng cũng không sống bình thường được làm cho bươu phải phình ra to dần lên, trong đó là những nếp sinh trưởng không tuân theo chu trình giống vòng lõi của thân cây, mà là sự quặn thắt nhiều chiếu, không có trật tự cố định để tạo nên những vân thở khác nhau thường như hoa văn mỹ thuật đến bất ngờ, tuyệt mỹ. Nếu vẻ đẹp của vân lôi các loại gỗ là những nét màu sắc đậm nhạt theo quy luật nhất định được hình thành trên từng giai đoạn phát triển của cây, thi thoảng có chút bất ngờ nơi chia cành hoặc u bướu…thì với nu gỗ là vô vàn những nét vẽ siêu hạng, ngấu hứng của thiên nhiên.
Nu Hương
Cũng chính vì sự phát triển sinh trưởng không tuân theo chu trình giống vòng lõi của thân cây, mà là sự quặn thắt nhiều chiều, không có trật tự cố định để tạo nên những vân thớ khác thường như hoa văn mỹ thuật đến bất ngờ, tuyệt mỹ. Nếu vẻ đẹp của vân lõi các loại gỗ là những nét màu sắc đậm nhạt theo quy luật nhất định được hình thành trên từng giai đoạn phát triển của cây, thi thoảng có chút bất ngờ nơi chia cành hoặc u bướu… thì với nu gỗ là vô vàn những họa tiết ngay trên một mặt cắt nhỏ, vân gỗ là những nét vẽ siêu hạng, ngấu hứng của thiên nhiên.
Cũng chính vì sự phát triển sinh tồn tập trung toàn bộ tính chất vào nơi xung yếu (thương tích) cần được nuôi dưỡng mà cũng đồng thời tạo nên sự cứng rắn của vật thể, khác hẳn với vật thể gỗ bình thường. Vân tạo thành đã không theo thớ lại có độ cứng rất cao nên quá trình chế tác nu gỗ là hết sức phức tạp, may mà ngày nay đã có máy móc trang bị trong một số công đoạn như đục, mài…thay cho thủ công. Giá nhân công làm trên chất liệu gỗ nu phải đắt gấp hai đến ba lần gỗ thường cùng một sản phẩm. Nếu làm bằng thủ công, số lượng đục cũng phải hỏng mất hàng chục cái sau một tác phẩm, cho dù đó phải là đục của làng rèn Đa Sĩ mới đủ sắc bén gọt gỗ nu.
Nu Hương
Nu nếu để nguyên mộc thì những nét vân huyền bí không nổi lên hết được mà cũng phải xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau tùy theo nu gỗ gì. Với gỗ nói chung, dù bất kỳ gỗ quý nào được chọn để chạm khắc làm đồ mỹ nghệ. Theo kinh nghiệm xưa, người ta đem gỗ phơi sương, nghĩa là đêm phơi ngoài sương, ngày phơi trong bóng dâm, phơi đi phơi lại trong nhiều tháng trời cho đến khi nước tự nhiên trong nhiều tháng trời cho đến khi nước tự nhiên trong gỗ khô kiệt đi, khi ấy sự co ngót hoặc nứt nẻ không thể sảy ra được nữa mới thôi. Ngày nay để rút ngắn thời gian chế tác, người ta dùng phương pháp khoa học công nghệ mới là đưa vào lò sấy khô. Làm như thế không thể bằng phương pháp phơi sương. Nu khô đem chế tác lại phải chọn kiểu vần thớ cho phù hợp với yêu cầu của tác phẩm như bàn ghế, tượng, hay đồ trang trí.
Nu Hương
Vẻ đẹp của nu không chỉ riêng những vân, thớ tạo tác bất ngờ và bắt sáng lại nổi lên như điêu khắc dù mặt nhẵn bóng, cả vùng biên ngoài cũng sẵn lên tận những nốt, u, hang hốc tự nhiên và trơ lạnh nét thời gian như đá. Nu càng dày thì vẻ đẹp càng rõ rang hơn. Có thể nói nu là những siêu phẩm gỗ với những sắc màu khác nhau và kiểu vặn mình “thêu hoa dệt gấm” đã làm cho những sản phẩm gỗ trở nên có giá trị vô cùng to lớn. Toàn bộ đồ gỗ trong nột thất dinh 3 của ông Hoàng Bảo Đại tại Đà Lạt đều được làm bằng nu. Trải qua năm tháng ngót gần thế kỷ mà các đồ gỗ nu ấy vẫn bóng mày vân, vẫn lộng lẫy như những bức tranh phong thủy nhiều màu sắc.
Nu Hương
Ở nước ta, Nu gỗ có ở nhiều miền rừng như Tây Nguyên, Việt Bắc và trên nhiều thứ gỗ từ gỗ xưa, hương, trắc, gụ, lim, căm xe, đến nghiến. Giá trị nhất là nu gỗ xưa, mỗi kg nu gỗ xưa trên thị trường hiện đang có giá trị từ 24 đến 25 triệu đồng.
Nu gỗ quý và giá trị như vậy nên những cơ sở sản xuất, chế tác không phải là nhiều để đủ điều kiện sản xuất, chế tác các đồ mỹ nghệ bằng nu gỗ. Hiện nay, Thiên Minh đã chế tác được một số tác phẩm bằng nu gỗ có thể nói là độc nhất vô nhị như tấm phản nằm dài 3m, rộng 2 chiều liền, bộ ghế salon liền tấm mặt, tay vai, lọ độc bình, mâm quả…đều liền một khối. Thứ nào thứ nấy vân sắc huyền ảo như da báo, thạch vân. Nu gỗ quả là một sản phẩm quý giá của thiên nhiên ban tặng cho chúng ta.
Nu Hương:
Nu Hương
Nu nghiến:
Nu Nghiến

PHÂN BIỆT CÁC LOẠI GỖ QUÝ

Nhiều người tự hỏi tai sao gỗ tự nhiên lại quý và có giá thành cao , và chúng khác nhau như thế nào để giúp các bạn mình xin đưa ra một số hiều biết về gỗ tự nhiên như sau :
    Gỗ cẩm lai (Dalbergia bariaensis)


Cẩm Lai là một loại gỗ quý, gỗ có màu nâu hồng, có vân đen, cứng, thớ mịn, khá ròn, rễ gia công, mặt cắt nhẵn, rễ đánh bóng, ăn véc ni. Thường được dùng để đóng đồ đạc cao cấp.
    Gõ Đỏ(Afzelia xylocarpa)
Gỗ có đỏ màu đỏ nhạt hoặc đỏ thẫm , có chỗ nổi vằn đen giống da hổ, nên có nơi còn gọi là cây Hổ bì. Gỗ cứng, rất bền, thường được dùng đóng bàn ghế, giường tủ, đồ chạm trổ cao cấp. Những u gỗ trên thân có…
    Gỗ Giáng Hương.(Pterocarpus pedatus pierre) :


sàn gỗ giáng hương

Gỗ bên,có mầu nâu hồng,mịn đẹp và thơm.
– Gỗ bền,đẹp thường được dùng để đóng bàn ghế,giường tủ,tạc tượng khắc tranh.
– Gỗ có màu nâu hồng,mịn đẹp và thơm.
– Gỗ khá nặng,vân đẹp,không bi mối mọt,ít cong vênh,do lắm dầu nên ít nứt nẻ.
– Nhựa cây có màu đỏ,có thê dùng để nhuộm,khi ngâm,nước sẽ chuyển màu xanh như luyn(nhớt)
sàn gỗ căm xe
sàn gỗ giáng hương
sàn gỗ tự nhiên
sofa da
    Gỗ Mun.( D.mun H.Lec).


Gỗ nặng, thớ gỗ rất mịn,có màu đen tuyền khi dùng lâu sẽ bong như sừng, hoặc màu đen sọc trắng
– Là cây gỗ nhỏ
– Thường được dùng để đóng bàn ghế, tạc tượng, đ iêu khắc tranh
– Gỗ nặng, thớ gỗ rất mịn
– Có màu đen tuyền khi dùng lâu sẽ bong như sừng, hoặc màu đen sọc trắng
– Khi ướt thì mềm rễ sử lý gia công, nhưng khi khô thì rất cứng
– Gỗ rất bền, chắc không bị mối mọt ( rác thì hay bị mọt) ít cong vênh,hay nứt chân chim.
    Gỗ trắc :


Thuộc cây gỗ lớn,gô rất cưng,nặng,thớ gỗ mịn có mùi chua nhưng không hăng,trong gỗ có tinh dầu.Trắc đỏ,Dalbergia balansae(trắc vàng),Dalbergia nigrescens(trắc đen)
– Thường dùng để đóng bàn ghế,giường tủ cao cấp,tạc tượng khắc tranh.
– Thuộc cây gỗ lớn,gỗ rất cứng,nặng,thớ gỗ mịn có mùi chua nhưng không hăng,gỗ rất bền không bị mối mọt,cong vênh.
– Gỗ có màu đỏ,màu vàng,màu đen tuỳ loài.
– Khi quay giấy giáp thì rất bóng bởi trong gỗ có sẵn tinh dầu.
Trắc đẹp nhất là loại ở đắclắk,hi ện nay rất hiếm,chỉ có phổ thông loại Trắc Laos,Campuchia hay là của Nam Phi.
    Gỗ Huỳnh Đàn hay còn gọi là sưa bắc bộ:

Sưa Bắc Bộ hay sưa hoặc trắc thối (do quả có mùi thối), cẩm lai Bắc Bộ, huê mộc vàng (danh pháp khoa học: Dalbergia tonkinensis) là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae). Nó được tìm thấy rải rác tại Hải Nam, Trung Quốc ( hoàng (huỳnh) đàn Việt Nam) và Bắc Bộ, Việt Nam. Để lâu ngày gỗ sẽ hình thành lớp tuyết trắng như sương. Hiện nay, nó là loài đang bị đe dọa do mất mất môi trường sống.
-Là cây gỗ lớn, lá thường xanh có thể cao tới 10-15 m, sinh trưởng trung bình, thân màu vàng nâu hay xám, nứt dọc. Lá dài 9-20 cm; cuống không lông; lá kèm sớm rụng, nhỏ, có lông nhỏ mịn và thưa, màu nâu vàng. Các cuống nhỏ không lông; số lá chét 5-9, với lá chét tận cùng thường là to nhất, hình trứng hay hơi thuôn dài, nhẵn, chất da, có lông mịn lơ thơ khi non, nhanh chóng chuyển thành không lông, gốc lá chét tròn, nhọn mũi. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá, khoảng 5-15 cm. Hoa trắng có đài hợp, thơm. Quả dạng quả đậu hình trứng thuôn dài, dài 5-6 cm, rộng khoảng 1 cm và chứa 1-2 hạt dạng bầu dục, đường kính khoảng 9 mm. Cành non màu xanh có đốm bì khổng màu trắng. Hoa ra tháng 4-7. Quả chín thu hoạch tháng 11-12.Gỗ trắc thối cho mùi thơm quyến rũ thoảng nhẹ kiểu hương trầm. Khi đốt tàn có màu trắng đục.
-Sử dụng:Gỗ trắc thối chỉ dùng phần lõi những cây trên trăm tuổi. Gỗ sưa thớ mịn, vừa cứng lại vừa dẻo, có nhiều hoa văn đẹp. Thời phong kiến vua chúa dùng gỗ trắc thối để đóng đồ nội thất cao cấp trong cung đình vì nó vừa là hương liệu vừa là dược liệu. Những năm gần đây, giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô săn lùng trắc thối để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế Trung Quốc trước đây. Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ trắc thối có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy. Ngoài ra, cây trắc thối thường gắn với các điển tích của Phật giáo, do đó ngày nay người ta làm những xâu tràng hạt với giá vài ngàn USD.
    Gỗ Sưa (Dalbergia cochinchinensis) :


Gỗ vừa cứng lại vừa dẻo, chịu được mưa nắng Gỗ có màu đỏ, màu vàng, có vân rất đẹp Có mùi thơm mát thoảng hương trầm
Là cây gỗ nhỏ, còn có tên khác là trắc thối
– Gỗ sưa có ý nghĩa tâm linh rất lớn, Thời phong kiến vua chúa thường dùng gỗ sưa để đóng đồ nội thất trong cung đình vì nó vừa làm hương liệu vừa làm dược liệu
– Gỗ vừa cứng lại vừa dẻo, chịu được mưa nắng
– Gỗ có màu đỏ, màu vàng, có vân rất đẹp
– Có mùi thơm mát thoảng hươngtrầm
    Gỗ Gụ :

– Có thớ thẳng,vân đẹp mịn,màu vàng trắng, để lâu chuyển màu nâu sẫm,rôì chuyển thành màu cánh dán,lâu năm đen như sừng.
– Gỗ quý,bền dễ đánh bóng,không bị mối mọt,ít cong vênh.Gỗ hay được dùng để đóng hàng mộc
– Nội thất,Sập gụ,vì nằm ngủ trên Sập gụ sẽ khoan khoái không bị đau mình mẩy như các loại

gỗ khác. tủ chè, bàn ghế, giường tủ cao cấp.v.v.
– Gỗ gụ có thớ thẳng,vân đẹp mịn, màu vàng trắng,để lâu chuyển màu nâu sẫm
– Gỗ có mùi chua nhưng không hăng.
– Mọc nhiều ở miền trung và miền nam, Lào. Campuchia

Gỗ Sưa-Dalbergia tonkinensis Prain

– Tên thông thường: Gỗ Sưa
– Tên khoa học: Dalbergia tonkinensis Prain
– Là cây gỗ nhỏ, còn có tên khác là trắc thối
– Gỗ sưa có ý nghĩa tâm linh rất lớn, Thời phong kiến vua chúa thường dùng gỗ sưa để đóng đồ nội thất trong cung đình vì nó vừa làm hương liệu vừa làm dược liệu
– Gỗ vừa cứng lại vừa dẻo, chịu được mưa nắng
– Gỗ có màu đỏ, màu vàng, có vân rất đẹp
– Có mùi thơm mát thoảng hương trầm
– Cây mọc ở đất ẩm thường xanh không rụng lá, và cũng mọc với các loài cây khác
004
003
002
001
Sưa hay sưa Bắc Bộ, trắc thối, huê mộc vàng, danh pháp khoa học Dalbergia tonkinensis Prain, là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae).
    – Đặc điểm nhận biết
Là cây gỗ nhỡ, lá thường xanh có thể cao tới 10-15 m, sinh trưởng trung bình, thân màu vàng nâu hay xám, nứt dọc. Lá dài 9-20 cm; cuống không lông; lá kèm sớm rụng, nhỏ, có lông nhỏ mịn và thưa, màu nâu vàng. Các cuống nhỏ không lông; số lá chét 5-9, với lá chét tận cùng thường là to nhất, hình trứng hay hơi thuôn dài, nhẵn, chất da, có lông mịn lơ thơ khi non, nhanh chóng chuyển thành không lông, gốc lá chét tròn, nhọn mũi.
Hoa tự dạng chùy, mọc ở nách lá, khoảng 5-15 cm. Hoa trắng có đài hợp, thơm. Quả dạng quả đậu hình trứng thuôn dài, dài 5-6 cm, rộng khoảng 1 cm và chứa 1-2 hạt dạng bầu dục, đường kính khoảng 9 mm. Quả khi chín không tự nứt. Cành non màu xanh có đốm bì khổng màu trắng. Hoa ra tháng 4-7. Quả chín thu hoạch tháng 11-12.
Có hai loài sưa chính là: sưa trắng và sưa đỏ. Sưa trắng cho hoa đẹp, quả to, đốt không có mùi. Nhưng giá trị gỗ không bằng sưa đỏ. Sưa đỏ trông gần giống sưa trắng, quả kết thành từng chùm, đốt lên có mùi thối.
Lá và quả khi đốt thì có mùi khó ngửi.
    – Sinh thái học

Là cây ưa sáng, ưa đất sâu, dày, độ ẩm cao. Phân bố ở độ cao dưới 500m. Có khả năng tái sinh hạt tốt.Lá dạng lông chim. Mỗi nhành lá có khoảng từ 7-15 lá,mọc so le,lá cuối to hơn, hình lưỡi mác. Thân cây nhẵn, màu xám trắng, lúc nhỏ thân cây hơi cong queo. Đầu mùa xuân thay lá, hoa màu trắng và màu vàng rất đẹp. Gỗ chắc, thơm và có tỉ trọng nặng hơn gỗ bình thường. Vân gỗ đẹp, rất được ưa chuộng để làm đồ dùng phong thuỷ.

    – Phân bố

Chủ yếu phân bổ ở Việt nam và được tìm thấy rải rác tại Hải Nam, Trung Quốc (tại đây gọi nó là 越南黄檀 – Hoàng (huỳnh) đàn Việt Nam).

    – Sử dụng



Gỗ trắc thối cho mùi thơm quyến rũ thoảng nhẹ kiểu hương trầm. Khi đốt tàn có màu trắng đục, mùi khó chịu nên được gọi là Trắc thối. Gỗ trắc thối chỉ dùng phần lõi những cây trên trăm tuổi. Gỗ sưa thớ mịn, vừa cứng lại vừa dẻo, có nhiều hoa văn đẹp. Thời phong kiến vua chúa dùng gỗ trắc thối để đóng đồ nội thất cao cấp trong cung đình vì nó vừa là hương liệu vừa là dược liệu. Những năm gần đây, giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô săn lùng trắc thối để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế Trung Quốc trước đây. Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ trắc thối có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy. Do đặc điểm hoa trắng, có mùi thơm, tán rộng, nên người ta có thể trồng làm cảnh tại các đường phố.

Theo Giáo sư Đỗ Tất Lợi thì gỗ cây này còn được sử dụng cùng với dạ dày nhím làm vị chính trong đơn thuốc chữa bệnh đau dạ dày. Hiện tại ở trung Quốc người ta chiết suất một số chất có trong gỗ Sưa này để chế thuốc chữa ung thư dạ dày. Hiện gỗ sưa ở Việt Nam đang được các thương lậu Trung Quốc thu mua với giá cả rất cao (130 triệu VND/m³).

Gỗ ghép thanh là gì?


Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí. Ván ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn và nhiều sản phẩm khác như ván lạng
gỗ ghép phủ veneer
Có 4 cách thức gỗ ghép song song, mặt, cạnh, giác. Gỗ ghép song gồm nhiều thanh g cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau.
Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ở hai đầu được xẻ theo hình răng lược rồi ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh, cho nên chỉ nhìn thấy vết ghép hình răng lược trên bề mặt ván, thị trường Nhật rất chuộng loại ván này.

Gỗ HDF là gì? Đặc tính cấu tạo gỗ HDF


Tầm gỗ HDF hay còn gọi là tấm ván ép HDF là từ viết tắt của từ High Density Fiberboard
Gỗ HDF được tạo theo quy trình như sau: nguyên liệu bột gỗ được lấy từ nguyên liệu sản xuất sản phẩm nội thất là gỗ tự nhiên rừng trồng nguyên khối: Luộc và sấy khô trong môi trường nhiệt độ cao, từ 1000C – 2000C. Gỗ được xử lý hết nhựa và sấy khô hết nước, với dây chuyền xử lý hiện đại và công nghiệp hoá hoàn toàn, G được đảm bảo chất lượng cao và thời gian xử lý nhanh. Bột gỗ được xử lý kết hợp với các chất phụ gia làm tăng độ cứng của gỗ, chống mối mọt, sau đó được ép dưới áp suất cao (850-870 kg/cm2) và được định hình thành tấm gỗ HDF có kích thước 2.000mm x 2.400mm, có độ dày từ 6mm – 24mm tùy theo yêu cầu.
- Các tấm ván HDF sau khi đã được xử lý bề mặt sẽ được chuyển sang dây chuyền cắt theo kích thước đã được thiết kế định hình, cán phủ lớp tạo vân gỗ và lớp phủ bề mặt, lớp phủ bề mặt thường được làm bằng Melamine Resin kết hợp với sợi thủy tinh tạo nên một lớp phủ trong suốt, giữ cho màu sắc và vân gỗ luôn ổn định, bảo vệ bề mặt.
gỗ HDF
Tấm HDF thường có kích thước có 2.000mm x 2.400mm, có độ dày từ 6mm – 24mm tùy theo yêu cầu.
Ưu điểm của gỗ ván ép HDF:
-      Gỗ HDF có tác dụng cách âm khá tốt và khả năng cách nhiệt cao nên thường sử dụng cho phòng học, phòng ngủ, bếp…
-      Bên trong ván HDF là khung gỗ xương ghép công nghiệp được sấy khô và tẩm hóa chất chống mọt, mối nên đã khắc phục         được các nhược điểm nặng, dễ cong, vênh so với gỗ tự nhiên.
-       HDF có khoảng 40 màu sơn thuận tiện cho việc lựa chọn, đồng thời dễ dàng chuyển đổi màu sơn theo nhu cầu thẩm mỹ.
-       Đặc biệt, bề mặt ván HDF tạo được thớ và vân gần như gỗ thật. Ván nguyên thủy màu vàng như giấy cartton.
-       Bề mặt nhẵn bóng và  thống nhất
-       Do kết cấu bên trong có mật độ cao hơn các loại ván ép thường nên gỗ HDF đặc biệt chống ẩm tốt hơn gỗ HDF.
-       Độ cứng cao
gỗ HDF
Bảo quản tốt nhất:
-       Không tiếp xúc với nước
-       Làm sạch bụi bẩn bằng vải mềm khô
Ứng dụng gỗ HDF trong nội thất :
-       Giải pháp tuyệt vời cho đồ nội thất trong nhà và ngoài trời, tấm tường, đồ nội thất, vách ngăn phòng, và cửa ra vào.
-       Do tính ổn định và mật độ gỗ mịn nên làm sàn gỗ rất tốt
-       Sản phẩm gỗ HDF là bước đột phá mang tính cách mạng trong công nghiệp sản xuất và xử lý gỗ. HDF được sử dụng rộng rãi làm gỗ lát sàn nhà (ván lát sàn gỗ công nghiệp) và cửa điCửa làm bằng chất liệu HDF đã thành chuẩn mực cửa thông phòng trong các công trình công nghiệp và dân dụng ở các nước tiên tiến như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản… và đặc biệt đã đang dần phát triển mạnh ở Việt Nam

Đặc điểm của gỗ Sồi


Gỗ Sồi (oak) được nhập khẩu từ Mỹ. Các sản phẩm nội thất được làm bằng gỗ Sồi luôn tạo cảm giác ngôi nhà hài hòa với ánh sáng tự nhiên, trẻ trung, ấm cúng và hiện đại.Gỗ Sồi gồm có 2 loại: Sồi Trắng và Sồi Đỏ
Gỗ Sồi đỏ (Red Oak) – Tên Khoa Học : Quercus spp.
gỗ sồi đỏ
Màu sắc, mặt gỗ, đặc tính và đặc điểm của gỗ Sồi đỏ có thể thay đổi tùy thuộc vào từng vùng trồng gỗ. Về cơ bản gỗ Sồi đỏ tương tự như  gỗ Sồi trắng.
Dát gỗ từ màu trắng đến nâu nhạt, tâm gỗ màu nâu đỏ hồng. Gỗ có ít đốm hình nổi bật vì các tia gỗ nhỏ hơn. Đa số thớ gỗ thẳng, mặt gỗ thô.
Đặc tính ứng dụng:
Gỗ chịu máy tốt, độ bám ốc và đinh tốt dù phải khoan trước khi đóng đinh và ốc. Gỗ có thể được nhuộm màu và đánh bóng để thành thành phẩm tốt. Gỗ khô chậm, có xu hướng nứt và cong vênh khi phơi khô. Độ co rút lớn và dễ bị biến dạng khi khô.
Đặc tính vật lý:
Gỗ cứng và nặng, độ chịu lực uốn xoắn và độ trung bình, độ chịu lực nén cao. Dễ uốn cong bằng hơi nước.
Độ bền:
Không có hoặc ít có khả năng kháng sâu ở tâm gỗ. Tương đối dễ xử lý bằng chất bảo quản.
Công dụng chính:
Đồ gỗ, ván sàn, vật liệu kiến trúc nội thất, gỗ chạm và gờ trang trí nội thất, cửa, tủ bếp, ván lót, quan tài và hộp đựng nữ trang.
 Gỗ Sồi trắng (White Oak) – Tên Khoa Học: Quercus spp.
gỗ sồi trắng
Có màu nâu trắng, dát gỗ màu nhạt, tâm gỗ từ nâu nhạt đến nâu sậm.
Đa số Sồi trắng có vân gỗ thẳng to và dài, mặt gỗ từ trung bình đến thô với các tia gỗ dài hơn Sồi đỏ. Vì vậy, Sồi trắng có nhiều đốm hình hơn.
Đặc tính ứng dụng: Gỗ chịu máy tốt, độ bám dính và ốc vít tốt dù phải khoan gỗ trước khi đóng đinh và ốc. Vì gỗ phản ứng với sắt nên người thao tác nên dùng đinh mạ kẽm. Độ bám dính của gỗ thay đổi nhưng gỗ có thể được sơn màu và đánh bóng để trở thành thành phẩm tốt. Gỗ khô chậm nên người thao tác phải cẩn thận để tránh nguy cơ rạn nứt gỗ. Vì độ co rút lớn nên gỗ dễ bị biến dạng khi khô.
Đặc tính vật lý: Gỗ cứng và nặng, độ chịu lực uốn xoắn và lực nén trung bình, độ chắc thấp nhưng rất dễ uốn cong bằng hơi nước. Sồi trắng miền Nam lớn nhanh hơn và các vòng tuổi gỗ rộng, có khuynh hướng cứng và nặng hơn.
Độ bền: Tâm gỗ có khả năng kháng sâu, không bị các loại mọt gỗ thông thường và bọ sừng tấn công, gỗ tuyệt đối không thấm chất bảo quản, dát gỗ tương đối không thấm chất này.
Công dụng chính: Làm cửa cao cấp, ván sàn, tủ buffer, tủ bếp, gỗ chạm trổ, gờ trang trí, ván lót, tà vẹt đường sắt, cầu gỗ, ván đóng thùng, quan tài và hộp đựng nữ trang…

Gỗ sưa là gỗ gì? đặc điểm chung của gỗ sưa


Gỗ sưa
Có hai loài sưa chính là: Sưa trắng và Sưa đỏ. Sưa trắng cho hoa đẹp, quả to, đốt không có mùi. Nhưng giá trị gỗ không bằng sưa đỏ. Sưa đỏtrông gần giống sưa trắng, quả kết thành từng chùm, đốt lên có mùi thối đặc trưng. Là cây ưa sáng, ưa đất sâu, dày, độ ẩm cao. Phân bố ở độ cao dưới 500m. Có khả năng tái sinh hạt tốt. Lá dạng lông chim. Mỗi nhành lá có khoảng từ 7-15 lá, mọc so le, lá cuối to hơn, hình lưỡi mác. Thân cây nhẵn, màu xám trắng, lúc nhỏ thân cây hơi cong queo. Đầu mùa xuân thay lá, hoa màu trắng rất đẹp. Gỗ trắc, thơm và có tỉ trọng nặng hơn gỗ bình thường. Vân gỗ đẹp, rất được ưa chuộng để làm đồ dùng theo phong thuỷ. Loài cây này chủ yếu phân bổ ở miền Bắc Việt Nam và được tìm thấy rải rác tại Hải NamTrung Quốc(gọi là Hoàng (hay huỳnh đàn Việt Nam).
Gỗ trắc thối cho mùi thơm quyến rũ thoảng nhẹ kiểu hương trầm. Khi đốt tàn có màu trắng đục, mùi khó chịu nên được gọi là trắc thối. Gỗ trắc thối chỉ dùng phần lõi những cây trên trăm tuổi. Gỗ sưa thớ mịn, vừa cứng lại vừa dẻo, có nhiều hoa văn đẹp. Thời phong kiến vua chúa dùng gỗ trắc thối để đóng đồ nội thất cao cấp trong cung đình vì nó vừa là hương liệu vừa là dược liệu. Những năm gần đây, giới nhà giàu nước ngoài đổ xô săn lùng trắc thối để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế. Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ trắc thối có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy.
Do đặc điểm hoa trắng, có mùi thơm, tán rộng, cho nên người ta có thể trồng làm cảnh tại các đường phố. Nghe nói theo Giáo sư Đỗ Tất Lợi thì gỗ cây này còn được sử dụng cùng với dạ dày nhím làm vị chính trong đơn thuốc chữa bệnh đau dạ dày. Có nơi còn chiết suất một số chất có trong gỗ sưa này để chế thuốc chữa ung thư dạ dày. Do được thổi lên giá rất cao.
Ví dụ, có bọn xấu tung tin, sẽ mua gỗ sưa với giá 100 triệu đồng/khối và họ thu mua thật sự. Sau đó, họ lại tuyên bố sẽ mua với giá 1 tỷ đồng/khối, khiến các con buôn ráo riết gom hàng. Cùng lúc đó, họ sẽ chuyển gỗ bán ngược về Việt Nam với giá vài trăm triệu đồng/khối. Như vậy, họ đã lãi một cách khủng khiếp. Nếu những lời đồn của giới buôn gỗ là đúng, thì quả là trò lừa đảo lớn.
Hiện nay gỗ sưa đang bị tận diệt khai thác. Theo IUCN thì cấp đe dọa của nó hiện nay là VU A1cd = sắp nguy cấp (năm đánh giá 1997). Ở Việt Nam, gỗ sưa thuộc nhóm 1A là nhóm đặc biệt quý hiếm. Vì vậy việc bảo vệ cây gỗ sưa tại Việt Nam đang là một việc rất đáng lo ngại. Cây gỗ sưa nhân giống không khó nên hàng chục vạn cây đã được nhân giống tại nhiều nơi để bán cho người trồng.
 Tuy nhiên, người ta không nghĩ rằng gỗ sưa, nhất là gỗ sưa đỏ tuy có nhiều ứng dụng nhưng phải trồng lâu năm và không thể có giá trên trời như tình trạng của những kẻ buôn bán lừa đảo trong thời gian vừa qua,

Gỗ Teak là gỗ gì?


Teak là cây rụng lá, gốc thường có rãnh và có bạnh. Cao 30 m, đường kính 60–80 cm. Vỏ ngoài màu xám vàng, nứt dọc thành vảy nhỏ, dài và hẹp, thịt vỏ có xơ. Cành non phủ lông hình sao, màu gỉ sắt. Lá hình trái xoan, hình trứng ngược hoặc gần hình tròn. Cụm hoa lớn hình chùy, gồm những xim 3 nhánh, mọc đối.

Gỗ Teak màu vàng sẫm, hay xám hơi nâu. Vòng năm rễ nhận, gỗ muộn mạch thưa, nhỏ hơn gỗ sớm. Tia nhỏ, mật độ thưa. Gỗ nặng trung bình, tỷ trọng 0,7. Lực kéo ngang thớ 32 kg/cm², lực nén dọc thớ 471 kg/cm², oằn 1.253 kg/cm².

gỗ Teak

Teak là loại gỗ quý. Gỗ Teak có vân rất đẹp, kết cấu tốt, thớ to nhưng mịn, không cong vênh, nứt nẻ, không bị mối mọt, nấm mộc phá hoại. Ngoài ra, Teak lại dẻo, dễ uốn cong, chịu lực cao nên dùng đóng bàn ghế, tủ. Teak là loại gỗ có khả năng đáp ứng được sự thay đổi về thời tiết và những môi trường khắc nghiệt nhất mà không có loại gỗ nào có thể so sánh được. Vì vậy, gỗ Teak được sử dụng làm những sản phẩm có giá trị cao như làm bán súng, đóng những chiếc du thuyền, làm tà vẹt cho đường ray xe lửa.

Gỗ Teak được sử dụng làm vật liệu trong ngành xây dựng hơn 150 năm. Gỗ Teak được nhiều nơi thu mua. Thị trường thế giới cũng rất cần nhiều Teak. Vì gỗ Teak có rất nhiều dầu Teak, sản phẩm làm từ gỗ Teak càng được sử dụng thì càng bóng và càng tốt.

Gỗ trắc


Cây gỗ to, thường xanh (rất ít khi rụng lá), cao 25 - 30m, đường kính thân đến 0,6m, hay hơn nữa. Vỏ ngoài màu vàng nâu, nút dọc, có khi bong từng mảng lớn. Lá kép lông chim lẻ một lần, dài 12 - 23cm mang 5 - 9 lá chét hình trái xoan, đầu và gốc tù, nhẵn, chất da; lá chét ở tận cùng thường to nhất (dài 6cm, rộng 2,5 - 3cm), các lá chét khác trung bình dài 3,5 - 5cm rộng 2,2 - 2,5 cm. Cụm hoa hình chùy ở nách lá, dài 7 - 15cm, thưa. Hoa trắng có đài hợp, xẻ 5 răng, nhẵn. Cánh hoa có móng thẳng. Nhị 9 thành 2 bó (5 nhị và 4 nhị); quả đậu rất mảnh, hình thuôn dài, gốc thót mạnh, đỉnh nhọn, dài 5 - 6cm, rộng 1 - 1,1cm, thường chứa 1, ít khi 2 hạt
Sản phẩm chính:  ván lạng
Sinh học: Mùa hoa tháng 5 - 7, mùa quả chín tháng 9 - 12. Mức tăng trưởng trung bình. Tái sinh bằng hạt và bằng chồi. Cây có khả năng nẩy chối mạnh sau khi bị chặt, nhưng nếu chồi ở cách xa gốc thì dễ bị đổ gãy. Cây con xuất hiện nhiều ở ven rừng, ven đường đi, chỗ đất trống, hầu hết có nguồn gốc chồi rễ. Dưới tán rừng có độ tàn che trên 0,5 chưa gặp cây tái sinh từ hạt.
Nơi sống và sinh thái: Cây mọc rải rác, có khi thành từng đám nhỏ trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh hay nửa rụng lá mưa mùa ở độ cao thường không quá 600m, có lúc lên đến 1.000m, trên đất phù sa cổ màu từ xám đến xám vàng, tầng đáy giàu chất dinh dưỡng.
Phân bố: Loài đặc hữu của Đông Dương. Việt Nam: Từ Quảng Nam - Đà Nẵng (Hiên, Giằng, Phước Sơn) trở vào đến Tây Ninh (Tân Biên), Đồng Nai (Thống Nhất: Trảng Bom), Kiên Giang. Tập trung nhất ở Kon Tum (Đắc Tô, Sa Thầy). Thế giới: Lào, Campuchia.
gỗ trắc
Giá trị: Gỗ quí, màu đỏ tươi, thớ mịn, dòn, dề gia công, mặt cắt mịn sau khi khô không nẻ cũng ít biến dạng, không bị mối mọt, khó mục mặt cắt dọc có hoa vân đẹp, rất cứng. Gỗ trắc rất có giá trị kinh tế, dùng đóng đồ đạc cao cấp giường tủ, bàn ghế nhất là sa lông và sập, làm đồ tiện khác và đồ mỹ nghệ. Gỗ rễ màu vàng nghệ thẫm, đóng đồ dạc dùng lâu sẽ lên nước bóng như sừng.
Tình trạng: Sẽ nguy cấp. Vì là loài cây cho gỗ trắc quí nổi tiếng nên đang bị khai thác rất mạnh và môi trường sống ngày càng bị thu hẹp. Mức độ đe dọa: Bậc V. Đề nghị biện pháp bảo vệ: Là đối tượng bảo vệ nguyên vẹn trong khu rừng cấm Đắc Uy (Đắc Tô Kontum) và cần gấp rút đưa vào trồng