Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Bao tiêu sản phẩm cho làng nghề truyền thống


TP - Là một sản phẩm truyền thống được chế biến theo phương pháp chưng cất rượu cổ truyền, nay được áp dụng công nghệ kỹ thuật trong lọc, khử tạp chất để đạt chất lượng tối ưu, rượu gạo Thủy Dương, thị xã Hương Thuỷ - Thừa Thiên Huế, đang là sản phẩm có uy tín và được ưa chuộng.
Dịp Tết Nguyên đán, rượu gạo Thủy Dương dù hoạt động hết công suất nhưng vẫn “cháy” hàng. “Mình phải từ chối khéo khách hàng vì lượng cầu quá lớn không đủ cung ứng” – Chị Phạm Thị Khánh Tâm, chủ cơ sở sản xuất rượu gạo Thủy Dương, cho biết.
Theo chị bí quyết để tạo nên thương hiệu cho rượu gạo Thủy Dương đó là sự vận dụng một cách sáng tạo công nghệ vào sản xuất nhưng không làm mất đi hương vị truyền thống của một đặc sản đã tồn tại lâu đời trên đất cố đô. Từ khâu chọn nguyên liệu đến cách chưng cất, lão hóa rượu đều tiến hành theo phương pháp truyền thống. Việc nghiên cứu vị trí địa lý, thổ nhưỡng cũng phải được nghiên cứu kĩ lưỡng để đảm bảo chất lượng, rượu mang vị đặc trưng của xứ Huế thơm, ngọt, béo – Chị Tâm nói.
Chị Khánh Tâm bên những mẫu mã mới đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của khách hàng
Chị Khánh Tâm bên những mẫu mã mới đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của khách hàng. Ảnh: H. Văn
Cách đây 5 năm, sở sản xuất Thủy Dương ra đời với mong muốn gây dựng lại thương hiệu rượu, một nghề truyền thống có nguy cơ mai một. Đam mê, tâm huyết cộng với vốn kiến thức tích lũy được, cô gái 8X này quyết định rời TPHCM trở về lập nghiệp ngay trên mảnh đất quê hương bằng nghề truyền thống của ông cha để lại. Đây cũng là cơ sở sản xuất rượu gạo đầu tiên trên mảnh đất cố đô có truyền thống nấu rượu lâu đời.
Ưu điểm rượu gạo Thủy Dương là không chỉ ngon mà giá rẻ hơn so với các loại rượu khác. Mẫu mã cũng có nét độc đáo riêng. Rượu đóng chai mang biểu tượng của xứ Huế, và nậm rượu dáng hồ lô nhiều năm nay đã trở thành món quà lưu niệm được nhiều khách hàng lựa chọn.
Đăng kí sản phẩm độc quyền năm 2006, rượu gạo Thủy Dương có mặt trong hội chợ trong nước và quốc tế. “Với ưu điểm vượt trội được kiểm chứng qua thái độ hưởng ứng nhiệt tình của khách hàng, rượu gạo làng Thủy Dương hoàn toàn có cơ hội vươn ra thị trường quốc tế. Song cái tạo nên thương hiệu chính là chất lượng chứ không thể chạy theo số lượng. Mình muốn sản phẩm của mình thực sự uy tín để đại diện cho một quốc gia khi cạnh tranh với các sản phẩm rượu ngoại quốc”– Chị Tâm khẳng định.
 Để đảm bảo chất lượng và cung ứng sản phẩm cho thị trường, và tạo việc làm tại chỗ cho người dân địa phương, chị Tâm hợp đồng chu cấp và chuyển giao công nghệ cho hơn 100 hộ chưng cất rượu tại các làng nghề rượu truyền thống. Hiện có 40 công nhân làm việc trực tiếp tại cơ sở sản xuất với mức lương giao động từ 1,5 – 4,5 triệu đồng/tháng.
Hoài Văn – Ksor

Gỗ Việt vẫn 'ngủ' trong rừng



TP - Hôm qua, gần 300 đại diện ngành sản xuất đồ gỗ Việt Nam tập trung làm rõ những điểm yếu của ngành này như thiếu nguyên liệu, phụ thuộc thị trường trung gian, cấp chứng chỉ rừng, nguồn gốc gỗ…
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tham quan gian hàng đồ gỗ mỹ nghệ tại Festival  Ảnh: Việt Hương
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tham quan gian hàng đồ gỗ mỹ nghệ tại Festival. Ảnh: Việt Hương .
Tại hội thảo Phát triển chế biến thương mại lâm sản gắn với quản lý rừng bền vững (trong khuôn khổ Festival Lâm sản Việt Nam lần thứ nhất) diễn ra ngày 27-3 tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, ông Cao Chí Công, Vụ Sử dụng rừng (Tổng cục Lâm nghiệp) nói:
“Ngành chế biến gỗ Việt Nam trung bình chỉ tạo ra giá trị xuất khẩu dưới 10.000 USD/công nhân/năm, trong khi Trung Quốc là 16.000 USD, Malaysia là 17.500 USD, Đức 70.000 USD/công nhân/năm. Điều đó chứng tỏ sức tăng trưởng của ngành chế biến gỗ Việt Nam không chỉ yếu mà không có sự đổi mới trong công nghệ sản xuất, chủ yếu dựa vào khách hàng nước ngoài thiết kế mẫu và đặt hàng”.
Tác phẩm Cửu Long Tranh Châu bằng gốc gỗ trắc trưng bày tại Festival
Tác phẩm Cửu Long Tranh Châu bằng gốc gỗ trắc trưng bày tại Festival .
Ngoài ra, phải nhập khẩu 80% nguyên liệu, trong khi gỗ có chứng chỉ vừa đắt vừa khó tìm… Ông Trần Ngọc Quân, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu (Bộ Công Thương) nói rằng, trung bình hằng năm, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD gỗ nguyên liệu vì nhu cầu trong nước chỉ đáp ứng 20-30%. Ngoài khâu ăn đong nguyên liệu, ta còn phải đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật để tiếp cận các thị trường như Mỹ, Nhật, EU…
Ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, Trưởng Ban tổ chức Festival, nói:
“Bình Định được mệnh danh là một trong những thủ phủ chế biến và sản xuất đồ gỗ của Việt Nam. Festival lâm sản lần đầu tiên chọn Bình Định làm nơi diễn ra sự kiện này cũng là nhằm phát huy vai trò, tiềm năng của ngành lâm sản nước nhà”.  
Ông Nguyễn Ngọc Lung, Viện Quản lý bảo vệ - Chứng chỉ rừng, nhận định: “Hai rào cản rất lớn hiện nay là chứng chỉ rừng và nguồn gốc gỗ. Chứng chỉ rừng là để bảo vệ được tiêu chuẩn rừng (Việt Nam hiện có hơn 20.000 ha rừng có chứng chỉ).
Chính sách đất đai không nhất quán (chỉ trong 10 năm Luật Đất đai bổ sung đến 4 lần) lại vướng khâu quản lý thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền và cán bộ địa chính. Bởi vậy, cần nghiên cứu, sửa đổi thủ tục và quy trình cấp sổ đỏ, khi đó mới mong tìm ra nguồn nguyên liệu gỗ có nguồn gốc”.
Tuy nhiên, thời gian qua, ngành đồ gỗ Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc, đứng thứ hạng cao về xuất khẩu trong ASEAN. Nếu nhìn vào tỷ trọng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam trên thị phần thế giới khoảng 1,5%, thì có thể thấy triển vọng gia tăng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam là rất lớn, nhiều đại biểu nói.
Theo thông tin từ Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, trong quý I-2011, doanh nghiệp trong ngành đã có hợp đồng đến hết năm, dự kiến tăng trưởng của ngành năm 2011 là 30%.
Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam đạt 3,5 tỷ USD, tăng hơn 10 lần so với 10 năm trước, chiếm vị trí thứ 5 trong những mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của cả nước. Việt Nam hiện có trên 2.500 doanh nghiệp chế biến đồ gỗ, trong đó có 970 đơn vị chuyên chế biến đồ gỗ xuất khẩu, hơn 400 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... Sản phẩm có mặt tại 120 quốc gia.
Việt Hương

Mô hình nuôi nhông trên cát đạt hiệu quả cao


Mô hình nuôi nhông trên vùng cát ở huyện Thăng Bình và TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đang bước đầu mang lại hiệu quả, gợi mở một mô hình chăn nuôi độc đáo mới của nông dân vùng cát.
Ông Ngô Văn Thuận, thôn Thanh Tân, xã Tam Thanh, TP.Tam Kỳ có một trang trại nuôi kỳ nhông được nhiều người biết đến. Sau thời gian học hỏi kinh nghiệm từ mô hình nuôi nhông ở vùng cát tỉnh Bình Thuận, cách đây 3 tháng, ông Thuận mạnh dạn đầu tư chuồng trại nuôi nhông. Đầu tiên, ông bỏ ra 10 triệu đồng mua 1.000 con nhông giống và hơn 5 triệu đồng xây 100m2 tường gạch bao kín.
Giống nhông của ông Thuận một nửa là nhông ta và một nửa lai Nhật. Nhông nuôi khoảng 4-5 tháng, có thể xuất bán. Nếu thổ nhưỡng và nguồn thức ăn tốt, một con nhông có thể cho trọng lượng 0,5 - 0,7kg. Thức ăn cho nhông là rau quả các loại. Ông Thuận cho biết: “Các loại thức ăn cho nhông đều tận dụng từ hoa màu. Nhông thời kỳ 1-2 tháng, gần như không tốn kém một đồng mua thức ăn. Nhưng từ tháng thứ ba trở lên, do thúc cho nhông chóng lớn để xuất bán ra thị trường, nên tốn khoảng hơn 10.000 đồng tiền mua thức ăn cho nhông mỗi ngày”.
Theo lời ông Thuận, nhông là giống có khả năng kháng bệnh cao, hoàn toàn phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở vùng cát Quảng Nam. Qua theo dõi, nhông ở vùng cát Tam Thanh sinh trưởng, chóng lớn không thua gì “xứ sở” nhông Bình Thuận. Hiện tại, 1kg nhông bán ra thị trường có giá dao động từ 250.000-300.000 đồng. Dù nhông của ông Thuận mới 3 tháng tuổi, nhưng có con đã đạt khoảng 2,5 lạng. Ông Thuận nhẩm tính: khoảng 5 - 6 con nhông cho thịt 1kg, thì sẽ có lãi gấp đôi. “Nuôi nhông không sợ rủi ro như chăn nuôi nhiều con vật khác. Tôi đã làm thủ tục xin chính quyền địa phương cho một ít đất để mở rộng trang trại của mình quy mô lớn hơn. Nếu có vốn, sẽ nhân giống đàn nhông lên 5.000 con” - ông Thuận cho hay.
Đây là mô hình nuôi nhông thứ hai ở vùng cát Quảng Nam, trước đây có một mô hình nuôi nhông ở dạng hộ gia đình tại xã Tam Tiến (huyện Núi Thành) cũng cho hiệu quả khá cao, nhưng chỉ dừng lại việc nuôi nhỏ lẻ, manh mún. Nuôi nhông không sợ đầu ra, vì thịt nhông hiện rất hiếm trên thị trường. Ngay con đường An Hà - Quảng Phú, xã Tam Phú (Tam Kỳ) lân cận với vùng cát Tam Thanh, quán nhậu đặc sản thịt nhông mọc lên như nấm vẫn nườm nượp khách lui đến.
Ông Nguyễn Thanh Lâm, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Thanh, cho biết nuôi nhông là mô hình chăn nuôi độc đáo ở vùng cát. Nếu thành công sẽ dần dần phát triển theo hướng quy mô. Tuy nhiên, để nông dân mạnh dạn đầu tư theo hướng phát triển hàng hóa, rất cần sự trợ giúp của cán bộ kỹ sư ngành chăn nuôi, lẫn nguồn vốn vay của ngân hàng.
Đầu năm 2009, Trạm Khuyến nông - khuyến lâm huyện Thăng Bình đã trực tiếp khảo sát, tham khảo các mô hình ở tỉnh Bình Thuận và đem giống về nuôi thử nghiệm ở địa phương, và đã giao cho anh Nguyễn Hồng Anh và Nguyễn Văn Thông nuôi thử nghiệm ở gia đình anh Nguyễn Hồng Anh (tổ 2, thôn Tiên Đỏa, xã Bình Sa, Thăng Bình). Sau 2 vụ xuất bán, anh Nguyễn Hồng Anh và anh Nguyễn Văn Thông đã thu được hơn 10 triệu đồng. Anh Thông cho biết, nhông là giống rất dễ nuôi, vì thế có thể tận dụng nguồn thức ăn sẵn có từ sản xuất nông nghiệp như rau muống, bí đỏ hoặc các loại dưa… Điều đặc biệt, con vật này không bị dịch bệnh và chỉ sống trên mặt đất vào các tháng mùa khô, các tháng mùa mưa chúng ẩn vào hang nên ít tốn thức ăn.
Sau thành công từ mô hình thử nghiệm, đến nay, trên địa bàn huyện Thăng Bình có rất nhiều hộ dân đã chọn nuôi nhông kinh tế. Theo ông Lâm Văn Luận (tổ 4, thôn Ngọc Sơn, xã Bình Phục, Thăng Bình), trước đây, gia đình ông làm nhiều nghề, nhận thấy nuôi nhông ở hộ của anh Nguyễn Hồng Anh thu được kết quả tốt, lại phù hợp với vùng cát của gia đình nên ông đã quyết định đầu tư cho mô hình kinh tế này.
Hiện giá nhông trên thị trường là 350.000 đồng/kg song không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của thị trường.
Phúc Đạt

Nông dân thời hiện đại tiếp thị cà phê chồn


TP - Tại lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 3, bên cạnh giao dịch của các doanh nghiệp lớn nhỏ, còn có những cuộc hẹn của nông dân thời hiện đại muốn “bơi” thẳng vào thị trường toàn cầu để chào bán loại hàng cao cấp, chính hiệu tự mình sản xuất ra.
Trong lễ hội Cà phê lần 2, một loại sản phẩm đặc biệt đã lần đầu tiên ra mắt công chúng: Cà phê chồn nguyên liệu thứ thiệt, loại cà phê cà phê sau tiêu hóa do những con chồn hương ăn quả cà phê chín thải Ra.
Người chào hàng là Nguyễn Quốc Khánh, chủ trang trại nuôi chồn ở thôn 6 xã Krông Búk, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk, tốt nghiệp hệ tại chức đại học Kinh tế nông nghiệp Hà Nội (khóa 1996-2000). Xuất phát từ thông tin một doanh nghiệp nổi tiếng về xuất khẩu cà phê chế biến rao trên tivi sẽ mua với giá từ 1 triệu -10 triệu đồng/ký cà phê chồn nếu chuyên gia về tận nơi xác nhận loại cà phê đó. Nhân tiện nhà có hơn 2 hecta rẫy cà phê, lại sẵn mấy con chồn hương nuôi chơi trong chuồng, Khánh chuyển sang nuôi chồn lấy cà phê bán.
Quy trình thuận lợi, sản phẩm khá nhiều Khánh mới đánh tiếng mời Cty nọ về xem hàng. Sau khi thẩm định, Cty đồng ý mua được gần 100 ký với giá từ 900 nghìn đến 1 triệu đồng mỗi ký thì… ngưng luôn. Khánh chới với không tìm được đầu ra, bởi thị trường tràn ngập loại cà phê hạt thông thường giá mỗi ký chỉ đôi ba chục nghìn.
Thanh chủ trại cà phê chồn đầu tiên ở Sơn La hội ngộ với Khánh chủ trại cà phê chồn đầu tiên ở Đắk Lắk
Thanh chủ trại cà phê chồn đầu tiên ở Sơn La hội ngộ với Khánh chủ trại cà phê chồn đầu tiên ở Đắk Lắk .
Sau cuộc chào hàng tại lễ hội Cà phê lần 2, Khánh vẫn không tìm được mối tiêu thụ trong khi đàn chồn không ngừng sinh sôi, hàng tồn lúc cao nhất lên đến 1,2 tấn. Đầu năm 2011, Khánh cùng một bạn tại TP HCM đứng ra lập Cty Huyền Thoại Núi với quyết tâm hồi sinh huyền thoại cà phê chồn. Huy động vốn từ anh em bạn bè, Khánh mạnh tay chi hơn 1 tỉ đồng cho các phần việc tiếp thị và làm lễ ra mắt loại cà phê chồn chính hiệu Việt Nam mang tên Legend Revived với các thương gia sang trọng tại khách sạn Rex 5 sao.
Buôn Ma Thuột tổ chức Lễ hội Cà phê lần 3, Khánh tiếp tục mang sản phẩm Legend Revived ra giới thiệu, với mẫu mã bao bì sang trọng hơn hẳn lần trước. Không hẹn mà gặp, chủ trại cà phê chồn đầu tiên của Đắk Lắk đã có cuộc hội ngộ lý thú với chủ trại cà phê chồn đầu tiên của Sơn La, giữa thủ phủ cà phê Buôn Ma Thuột.
Anh Đinh Công Hiệp, trú tại Bản Kang phường Chiềng Sinh, TP Sơn La, tự hào là người chuyên nuôi và cung cấp nhím giống, sau đó là chồn hương giống cho khách hàng khắp các tỉnh phía Bắc. Anh có trợ thủ rất đắc lực là cô con gái đầu lòng Đinh Thị Thanh đã tốt nghiệp cử nhân tin học. Sau Lễ hội Cà phê 2, đọc bài giới thiệu về cà phê chồn trên báo Tiền Phong, Thanh đem báo về cho gia đình xem. Anh Hiệp thích thú làm theo. Cà phê chồn sản xuất được, anh cùng con gái đem về Hà Nội chào hàng, thỉnh thoảng cũng bán được cho mỗi mối vài ký với giá 3-4 triệu đồng/ ký.
Nhưng rồi bầy chồn mấy chục con của anh cũng sản xuất cà phê ra nhanh hơn lượng cà phê anh bán được. Thanh bèn thiết kế cho bố một trang web tiếp thị bằng tiếng Anh hẳn hoi. Khi thấy thông tin trên mạng về Lễ hội cà phê lần 3, hai bố con anh liên lạc với Trung tâm Xúc tiến thương mại tỉnh Đắk Lắk xin hỗ trợ, táo bạo bay vào Tây Nguyên để tiếp thị cà phê chồn. Gian hàng của trại chồn Sơn La giữa Hội chợ Chuyên ngành Cà phê dù nhỏ vẫn có nhiều khách ghé vào, thích thú nhận những gói nhỏ cà phê chồn rang xay làm quà tặng, rực rỡ màu sắc thổ cẩm từ bàn tay tiếp thị, thiết kế khéo léo của cô cử nhân xinh xinh vùng Tây Bắc, và đã nhận được vài gợi ý đặt hàng từ một số du khách Hàn, Nhật.
Sau cuộc gặp gỡ tại Buôn Ma Thuột, Khánh và Thanh tiếp tục hẹn làm việc với nhau tại TP Hồ Chí Minh, bàn thảo hợp tác cùng quyết tâm đưa sản phẩm cà phê chồn cao cấp thứ thiệt do chính mình sản xuất, với “made in VietNam” ra thị trường cà phê thế giới.
Hoàng Thiên Nga

Hương dó bầu xứ Quảng… bay tận trời Á, Phi!


Sự ra đời của cơ sở chế biến tinh dầu từ nguyên liệu cây dó bầu của Cơ sở sản xuất, chế biến dầu trầm của chị Nguyễn Thị Ngọc (ở khối 7 thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, Quảng Nam) mỗi năm góp phần tiêu thụ hàng triệu cây dó của vùng đất Quảng Nam.
 Vườn ươm cây dó bầu của Cơ sở chị Hồng Ngọc
Vườn ươm cây dó bầu của Cơ sở chị Hồng Ngọc.
Theo lời chị Ngọc, doanh nghiệp Hồng Ngọc sẽ ký hợp đồng với nông dân trồng dó; cây đến tuổi khai thác, sẽ mua với giá 10.000 đồng/kg. Chị là người mở lối cho một làng nghề thủ công mới đầy tiềm năng trên đất Quảng.
Không dừng lại ở “sân chơi nhà”, chị Ngọc mở rộng đặt hàng với nông dân Hà Tĩnh để bao tiêu toàn bộ cây dó. Hiện, chị đang sở hữu hàng chục hecta dó 1-2 tuổi và một làng nghề chế biến tinh dầu trầm giá trị hàng tỷ đồng.
Chị Ngọc kể rằng, những năm 70 của thế kỷ trước, miền núi Tam Sơn của huyện Núi Thành heo hút, cách trở. Cây dó thời đó chưa có giá, không ít người phải chặt làm củi, thậm chí người tạo được trầm cũng không nhiều.
Cũng thời điểm này, huyện Trà My (cũ), người dân bắt đầu phất lên bằng nghề trầm hương. Chị Ngọc dành dụm một ít vốn, đón xe ngược lên vùng cao Quảng Nam với những chuyến buôn lẻ đầu tiên. Chưa quen địa bàn, vốn lại ít, chị chỉ buôn bán lẻ tẻ để mưu sinh. Rồi nghe phong thanh ở trong Phú Khánh, người ta đã chiết xuất thành công tinh dầu từ dó trầm, chị Ngọc quyết định khăn gói vào học nghề. Hành trang mang theo là ba cây dó bầu mà chị mua với giá 2 triệu đồng. “Đến khi ngồi lên xe, mình mới giật mình, vì trong ví chỉ vừa đủ tiền cho hai chuyến xe đi - về. May nhờ người quen giúp đỡ, chỉ lối, mình đã học nhiều kinh nghiệm quý về chiết xuất tinh dầu cây dó ở nơi đất khách”- chị Ngọc nhớ lại. Từ buôn lẻ cây dó để đắp đổi bữa ăn qua ngày, chị đã biến nó thành một loại cây mang lại giá trị kinh tế cao, đồng thời ươm mầm cho một làng nghề thủ công.
Năm 2005, chị Ngọc xây dựng cơ sở chế biến tinh dầu dó trầm với 60 nồi chưng cất, đầu tư hơn 3,5 tỷ đồng. Thân cây dó ngoài việc chế tác các sản phẩm mỹ nghệ cao cấp còn dùng tinh chiết thành dầu. Toàn bộ quy trình nấu, chiết xuất đều thực hiện thủ công.
Theo chị Ngọc thì, khoảng 2-3 tấn dó đưa vào nấu sẽ cho ra khoảng 1 lít dầu. 1 lít dầu hiện nay có giá dao động 8.000-10.000 USD. Tinh dầu dó trầm Doanh nghiệp Hồng Ngọc dần được giới kinh doanh nghe tiếng, tìm đến. Tiếng lành đồn xa, nhiều khách hàng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Ai Cập… liên tiếp đặt hàng, nhiều lúc sản xuất không kịp bán. Để không bị động trong khâu tìm kiếm nguyên liệu, năm 2005, chị Ngọc đã ký nhiều hợp đồng với các đối tác ở Hà Tĩnh. Chẳng hạn như, thỏa thuận với Công ty Vạn Thành, thị trấn Hương Sơn, cấy tạo trầm 10.000 cây dó (5ha); hợp đồng với Công ty Cao su Hà Tĩnh nhận cấy 15.000 cây dó (20ha) và hiện Doanh nghiệp Hồng Ngọc đang tận thu khai thác dó. Chị Ngọc tự tin nói: “Không còn nghi ngờ về hiệu quả kinh tế mà cây dó bầu đem lại. Giá trị cao gấp nhiều lần so với các cây nguyên liệu khác như bạch đàn, keo lá tràm… Người dân cứ mạnh dạn trồng, tốt hơn nên liên kết các nhóm hộ để trồng. Doanh nghiệp sẽ ký hợp đồng tạo trầm, đến tuổi khai thác sẽ mua 10.000 đồng/kg”. Thử làm một phép tính đơn giản: bình quân 1ha trồng 2.500 cây dó, sau 7 năm thu hoạch, cây còi cọc nhất cũng cho 100 ký, tương đương 1 triệu đồng, 1ha tối thiểu thu 2,5 tỷ đồng.
Không chỉ làm ăn trong nước, gần đây, cơ sở Hồng Ngọc còn đến tận bản Nỏng Bua, huyện Phôn Hông (Viêng Chăn - Lào) để cấy tạo trầm 10.000 cây dó (trị giá 250.000 USD) cho Công ty Phát triển lâm sinh. Ăn nên làm ra, chị tiếp tục mở rộng cơ sở kinh doanh, hợp đồng với nhiều hộ nông dân trồng dó. Doanh nghiệp Hồng Ngọc đặt mua toàn bộ dầu chế biến thô, cũng như các dăm gỗ từ cây dó ở làng nghề mỹ nghệ trầm hương Trung Phước, xã Quế Trung. Ngoài ra, cơ sở này còn giải quyết cho 40-50 lao động tại địa phương, bình quân thu nhập mỗi tháng 1,6 triệu đồng/người.
Theo chị Ngọc, Quảng Nam đất rộng, có đầy đủ điều kiện tự nhiên để phát triển mạnh cây dó bầu. Vùng cao cần trồng loại cây này. Nếu tỉnh có tầm nhìn xa, sẽ giải quyết được bài toán hóc búa nên trồng cây gì. Vấn đề ở chỗ, nông dân cần liên kết các nhóm hộ lại với nhau, nhằm tránh tình trạng trồng manh mún, theo kiểu mạnh ai nấy làm.

Để trái bơ thành đặc sản quý


TP - Cây bơ được du nhập vào Tây Nguyên từ những năm 1940, và phát triển mạnh do phù hợp khí hậu thổ nhưỡng. Tuy nhiên, do ít có giống tốt lại nhiều sâu bệnh, chính người trồng cũng hiếm khi được thưởng thức bơ ngon.
Mùa bơ rộ, đi đâu cũng thấy bơ, giá bán quá rẻ chỉ vài trăm đồng/ ký chẳng bõ công trèo cây hái quả, nhiều nơi bơ trở thành loại thực phẩm vỗ béo gia súc, thậm chí bỏ mặc chín rụng tự do thành phân xanh tăng độ mùn cho đất. Có lúc bơ bị chặt bỏ hàng loạt để trồng loại cây ăn trái khác hiệu quả hơn.
Năm 1999, với sự hỗ trợ của PAO (tổ chức Liên Hiệp quốc chuyên về chống đói nghèo và đảm bảo an ninh lương thực), Chính phủ Việt Nam chọn bơ là 1 trong 7 loại giống cây-con ưu tiên phát triển và nhân rộng. Trái bơ ngoài hương vị đậm đà, béo thơm khoái khẩu còn là loại quả “siêu sao” về dinh dưỡng, vì có đến 14 loại vitamin và khoáng chất, hàm lượng protein cao nhất trong các loại trái cây, giàu carotenoid tự nhiên giúp sáng mắt và duy trì làn da đẹp, giàu chất chống ôxy hoá có thể giúp giảm nguy cơ mắc các chứng ung thư, đục thuỷ tinh thể, gây lão hoá da.
Bốn mùa bơ đều ra quả tươi ngon tại vườn anh Trịnh Xuân Mười
Bốn mùa bơ đều ra quả tươi ngon tại vườn anh Trịnh Xuân Mười.
Năm 2006, tổ chức Hỗ trợ phát triển Quốc tế (GTZ) của Cộng hoà Liên bang Đức đánh giá cây bơ là loại cây ăn trái rất quý, khuyến cáo phát triển và nâng cao giá trị trái bơ. Nhận thấy cơ hội, Sở Khoa học công nghệ Đắk Lắk phối hợp với một đơn vị được GTZ uỷ quyền xây dựng thương hiệu DAKADO ( ghép từ tên Đắk Lắk và Avacado – tên quốc tế của bơ), mời các nhà vườn, chủ vựa trái cây đến dự lớp tập huấn nâng cao chất lượng bơ.
Có thêm kiến thức qua tập huấn và có động lực hỗ trợ, một chủ vựa bơ là Thu Nhơn và một chủ vườn bơ là Trịnh Xuân Mười có sản phẩm sạch, chất lượng tốt đã tiến hành đăng ký nhãn hiệu bơ độc quyền.
Tháng 7-2008, thành phố Buôn Ma Thuột lần đầu tiên mở ngày hội trái bơ, người dân và du khách ai cũng bất ngờ khi được thưởng thức các món ăn chế biến từ bơ như : salát bơ, bơ trộn sữa, cà phê bơ … do vựa bơ Thu Nhơn chế biến. Kết thúc ngày hội, vựa bơ Thu Nhơn được giao thực hiện dự án SME-GTZ tại tỉnh Đắk Lắk. Từ đây, những chủ vườn nhận đầu tư giống, kỹ thuật chăm bón, thu hoạch đúng kỹ thuật đều được thu mua bơ với giá cao, được mời tham dự các hội chợ, có sản phẩm đóng gói bán qua hệ thống siêu thị Metro, COOp.mart và toàn quốc.
Du khách đến Tây Nguyên thường thích mua trái bơ đem về. Trước kia yêu cầu này thường chỉ được đáp ứng trong mùa hè, nay thì quả bơ tươi ngon có trên các sạp chợ quanh năm, nhờ một số nhà vườn đã chiết ghép thành công giống bơ tứ quý. Bơ ngon chính vụ giá từ 10-20 nghìn/ ký. Bơ ngon trái vụ giá mỗi ký lên đến 50-70 nghìn đồng. Cây bơ ra trái ngon suốt 4 mùa được nhân giống nhiều nhất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là cây bơ “Tổ” không rõ bao nhiêu năm tuổi, gốc lớn tới 2 vòng tay người ôm tại vườn anh Nguyễn Ngọc Đức ở thôn 7 xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin.
Trải bao thăng trầm, ngày nay bơ đã đưa lên hàng đặc sản trân quý, không chỉ là loại trái cây giàu dinh dưỡng trong gia đình mà còn là quà tặng đặc sản, và món được ưa chuộng trong thực đơn các hãng hàng không, các nhà hàng sang trọng.
Dự án GTZ kết thúc. Các chuyên gia theo dõi hiệu quả của dự án này đã tác động để Ngân hàng thế giới quyết định hỗ trợ 8,53 triệu USD triển khai tiếp Dự án Cạnh tranh Nông nghiệp ở Đắk Lắk, nhằm phát triển những loại nông sản đem lại lợi nhuận cao cho nông dân , trong đó có cây bơ, cà phê và heo rừng nuôi. Theo khảo sát dự án, tổng diện tích bơ quy đông đặc gần 2.700 ha và sản lượng trên 40.000 tấn/năm hiện nay sẽ đem lại cho Đắk Lắk nguồn lợi mỗi năm khoảng 7 triệu USD.

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Nghiên cứu tính đa dạng nguồn gen cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc Dao ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Tên đề tài (*) Nghiên cứu tính đa dạng nguồn gen cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc Dao ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Cơ quan chủ trì Đại học Thái Nguyên
Cơ quan thực hiện Đại học Khoa học
Loại đề tài Đề tài cấp đại học
Lĩnh vực nghiên cứu Sinh - Công nghệ sinh học, thực phẩm
Chủ nhiệm(*) Lê Thị Thanh Hương
Ngày bắt đầu 01/2012
Ngày kết thúc 12/2013
Tổng quan
Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò trọng yếu trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng người trên khắp thế giới. Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và từ đó, mỗi châu lục mỗi dân tộc hình thành nên nền dược thảo mang nét đặc trưng riêng:
- Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Thầy thuốc người Hy Lạp có tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách “De material Medica” thống kê 600 loại thảo mộc; Nicholas Culpeper xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian”…
- Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời. Ở Trung Quốc, Lý Thời Trân (thế kỷ 16) đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập "Bản thảo cương mục". Năm 1977 trong cuốn “Từ điển bách khoa về các phương thuốc cổ truyền Trung Quốc” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc. Cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc từ trước tới nay. Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền - y học Ayurveda đã phát triển mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng có hiệu quả, theo thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc…
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng như: Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV) với bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật; Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1721 - 1792) với bộ “Lĩnh Nam bản thảo” tổng hợp được 2854 vị thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian. Thời kỳ Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu phương Tây như Crévost, Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de L’lndochine” (1928 - 1935) và bộ “Les plantes de médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương. Sau khi miền Bắc được giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc, với nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Vũ Văn Chuyên, 1966, Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc. Nxb Y học, Hà Nội.
- Đỗ Tất Lợi, 1986, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
- Phạm Hoàng Hộ, 1991-1993, Cây cỏ Việt Nam. Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
- Võ Văn Chi, 1996, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội.
- Trần Đình Lý, 1997, 1900 loài cây có ích ở Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
- Nguyễn Nghĩa Thìn, 2001, Cây thuốc của đồng bào Thái ở Con Cuông, Nghệ An. Nxb Nông nghiệp, HN.
- Viện Dược liệu, 2003, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. Nxb Giáo dục.
- Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007, Sách đỏ Việt Nam. Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
Tính cấp thiết
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về tính đa dạng nguồn gen cây thuốc được tiến hành, nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn những cây thuốc quý, bảo tồn vốn tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số sinh sống trên mọi miền của đất nước Việt Nam. Và những tri thức dân gian trong việc điều trị và chữa bệnh của dân tộc Dao luôn được mọi người chú ý bởi vốn tri thức của họ rất đặc biệt và phong phú. Tại Thái Nguyên, người Dao phân bố chủ yếu ở các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ... và có sự phân bố không đồng đều tại các xã trong huyện. Trong đó, tại huyện Đồng Hỷ có xã Hợp Tiến là một xã miền núi, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và là nơi có đồng bào dân tộc Dao tập trung đông nhất. Tuy nhiên, những kinh nghiệm quý báu đó đang dần bị mai một, đồng thời nguồn gen cây thuốc nơi đây đang đứng trước nhiều nguy cơ bị suy giảm. Điều này cho thấy cần phải thực hiện công tác nghiên cứu và qua đó làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững trong tương lai.
Mục tiêu
-  Xây dựng được danh lục các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên sử dụng để chữa bệnh theo kinh nghiệm truyền thống.
-  Đánh được giá tính đa dạng nguồn gen cây thuốc bản địa được người Dao ở Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên sử dụng.
-  Thống kê những cây thuốc thuộc diện quý hiếm cần bảo tồn hiện có ở khu vực nghiên cứu.
-  Sàng lọc sơ bộ được một số nguồn cây thuốc có chứa hợp chất coumarin.
Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn từ dịch chiết chứa coumarin của một số cây thuốc.
Nội dung
Điều tra thu thập:
+ Thông qua sự giới thiệu, hướng dẫn của các ông lang, bà mế và các thầy thuốc y học cổ truyền người dân tộc Dao ở địa bàn nghiên cứu để nhận biết, ghi chép, chụp ảnh và thu thập mẫu của tất cả những cây thuốc đã biết bởi cộng đồng dân tộc này.
+ Thu thập về công dụng, cách sử dụng các cây thuốc đó theo kinh nghiệm truyền thống của cộng đồng dân tộc Dao tại một số địa điểm ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Thu thập các bài thuốc theo kinh nghiệm chữa bệnh của cộng đồng dân tộc Dao ở Đồng Hỷ.
Phân tích, tổng hợp, đánh giá:
+ Xác định tên khoa học và xây dựng danh lục cây thuốc: Xác định tên khoa học của tất cả các loài cây thuốc đã thu thập được. Xây dựng Danh lục cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Mỗi loài gồm các thông tin về tên gọi (phổ thông, dân tộc, latinh, họ thực vật); công dụng (bộ phận dùng, cách dùng). Danh lục được xây dựng theo vần ABC tên phổ thông và tên khoa học.
+ Xây dựng Danh lục các loài cây thuốc thuộc diện bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được (hiện có) tại khu vực nghiên cứu. Mỗi loài gồm các thông tin: tên gọi (phổ thông, dân tộc, latinh, họ thực vật); công dụng làm thuốc; các mức độ được ghi nhận trong (Sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP).
+ Phân tích, đánh giá tính đa dạng nguồn gen cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc Dao ở Đồng Hỷ – Thái Nguyên.
- Sàng lọc các nguồn cây thuốc chứa hợp chất coumarin: Các cây thuốc được nghi ngờ có chứa hợp chất coumarin – một hợp chất quý dùng để sản xuất thuốc sẽ được sàng lọc bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng với các phương pháp hiện màu đặc trưng cho loại hợp chất này.
- Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn từ dịch chiết chứa coumarin: Dịch chiết chứa coumarin của một số cây thuốc sẽ được đánh giá khả năng kháng lại một số vi sinh vật gây bệnh gồm E.coli, Bacillus subtilis, Pseudomonas aeruginosa (Trực khuẩn mủ xanh) và Staphylococcus aureus (Tụ cầu vàng) bằng phương pháp xác định vòng kháng khuẩn trên đĩa Petri.
PP nghiên cứu
Phương pháp điều tra thực địa: Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc và cách sử dụng cây thuốc trong cộng đồng sử dụng theo phương pháp điều tra mở, dựa trên các tiêu chí trong: Phiếu điều tra cây thuốc trong cộng đồng và phiếu điều tra bài thuốc dân gian (Viện Dược liệu - Bộ Y tế). Điều tra theo tuyến trên thực địa để thu thập được đầy đủ nhất số loài cây thuốc hiện có ở khu vực nghiên cứu.
 Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật ngoài thực địa: Mẫu vật được thu hái đầy đủ theo danh lục đã phỏng vấn và theo sự chỉ dẫn của các thầy thuốc bản địa. Sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài cây thuốc.
Phương pháp xử lý, phân tích và phân loại mẫu vật: Các mẫu vật được thu thập bổ sung trong quá trình thực địa được mang về phân tích và xử lý trong phòng thí nghiệm. Tiến hành xác định tên khoa học của cây thuốc theo phương pháp hình thái truyền thống, kết hợp với kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và các bộ thực vật chí chuyên ngành. Tiến hành lập Danh lục cây thuốc ở khu vực nghiên cứu.
Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc: dựa trên phương pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (2005).
Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc: dựa trên Sách đỏ Việt Nam - phần Thực vật (2007); Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007); Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
Phương pháp định tính coumarin: Định tính bằng phản ứng đóng mở vòng lacton và định tính bằng phương pháp sắc kí lớp mỏng Silicagel GF254 của hãng MERCK.
Phương pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn: tiến hành đánh giá tính hiệu quả của dịch chiết cây thuốc chứa coumarin trên 4 chủng vi khuẩn gây bệnh Escherichia coli VTCC-B-883, Bacillus subtilis VTCC-B-888, Pseudomonas aeruginosa VTCC-B-481 (Trực khuẩn mủ xanh), Staphylococcus aureus ATCC 25923 (Tụ cầu vàng) bằng phương pháp khuếch tán trong thạch.
Hiệu quả KTXH
- Hiệu quả về giáo dục: Nghiên cứu về đa dạng nguồn gen cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên là rất cần thiết để góp phần tồn đa dạng sinh học, bảo tồn những kinh nghiệm cổ truyền quý báu của cha ông.
- Hiệu quả về đào tạo: phục vụ 1 luận án tiến sỹ, đào tạo 1 sinh viên nghiên cứu khoa học và 2 sinh viên làm khoá luận tốt nghiệp đại học.
- Hiệu quả về kinh tế: cung cấp số liệu cụ thể giúp cho việc xây dựng các vùng dược liệu phục vụ cho sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng và các chế phẩm sinh học từ cây thuốc. Phục vụ cho người dân bản địa tiến tới phục vụ mục đích thương mại, góp phần phát triển kinh tế của đồng bào dân tộc huyện Đồng Hỷ.
ĐV sử dụng
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Phần I: ĐỘNG VẬT QUÝ HIẾM Ở VIỆT NAM
San hô
Hải sâm
Bào ngư
Mực thước
Ốc anh vũ
Ốc đụn cái
Trai cánh dày
Trai ngọc
Trai tai tượng khổng lồ
Vẹm xanh
Cua núi
Sam đuôi tam giác
Tôm hùm
Bọ lá
Cà cuống
Cánh kiến đỏ
Cá anh vũ
Cá bám đá liền
Cá chìa vôi
Cá chình Nhật
Cá lăng
Cá lợ lớn
Cá lưỡng tiêm
Cá mòi cờ
Cá ngựa
Cá nhám nâu
Cá cóc Tam Đảo
Cá sấu Xiêm
Con giải
Đồi mồi
Rắn hổ mang chúa
Rùa da
Rùa núi vàng
Trăn đất
Công
Gà lôi hông tía
Gà lôi lam đuôi trắng
Già đẫy Java
Sếu đầu đỏ
Trĩ đỏ
Báo hoa mai
Bò rừng
Cá nàng tiên
Cầy vằn Bắc
Cu li lớn
Gấu ngựa
Hổ
Hươu sao
Khỉ đuôi lợn
Sao la
Sói đỏ
Tê giác một sừng
Voi
Voọc đầu trắng
Voọc xám
Vượn đen má trắng
Phần II: THỰC VẬT QUÝ HIẾM Ở VIỆT NAM
Nấm kèn hay nấm mào gà
Nấm thông
Nấm Xêda
Rong câu chân vịt
Rong hồng vân
Rong mơ mềm
Cốt toái bổ
Lá thông hay tóc tiên
Lông cu li
Bách vàng
Bách xanh
Du sam
Hoàng đàn
Hoàng đàn giả
Pơ mu
Sa mộc Quế phong
Thiết sam
Thông đỏ hay sam hạt đỏ
Thông lá dẹt
Thông nước
Thông Pà cò
Thiên tuế lược
Ba gạc
Bàng vuông
Cẩm lai
Chò chỉ
Đảng sâm
Đinh
Giáng hương quả to
Gõ đỏ hay gõ cà te
Gụ mật
Hoàng liên chân gà
Kơ nia
Mun
Nghiến
Rau sắng
Sâm Ngọc Linh
Tam thất
Trà hoa vàng
Trầm hương
Vang
Vàng đắng
Vù hương
Bảy lá một hoa
Hoàng tinh hoa đỏ
Lan hài
Lan hoàng thảo
Một lá
Râu hùm
Song mật
Thảo quả
Thiên niên kiện
Trúc đùi gà

Những loài động vật "cực kì quí hiếm" trên Trái đất.

Trái đất ta với bao điều kì thú. Có những loài động vật cực kì độc đáo. Chính vì thế mà nguy cơ tuyệt chủng của chúng cực kì cao. Hãy cùng tôi điểm mặt những loài động vật đó.
1. Tarsier
Đó là tên một loài linh trưởng nhỏ nhắn nhưng lại quí hiếm nhất trong số các loài linh trưởng. Người ta từng cho rằng nó đã sớm tuyệt chủng vào năm 1921. Nhưng vào năm 2007, nó đã "tái xuất gian hồ" trở lại.
Xuất hiện trên Trái đất cách đây 45 triệu năm, khỉ lùn Tarsier từng phân bố rộng rãi, "tung hoành ngang dọc" ở nhiều nơi trên Trái đất. Thế nhưng, hiễn nay nó lại nằm trên bờ vực tuyệt chủng. Việc môi trường sống thu hẹp, là thức ăn cho nhiều loài mèo hoang, cộng với việc thường xuyên bị người dân địa phương săn bắt để bán có thể xem là nguyên nhân chính của nguy cơ tuyệt chủng này.

Những chú khỉ lùn này có kích thước nhỏ như con chuột, nổi bật là đôi mắt to chiếm gần hết khuôn mặt.
Nhìn chúng dễ thương không nào? Ảnh này chắc là kỉ thuật vi tính thôi!

Như các bạn thấy. Ngoài đôi mắt to nổi bật giữa khuông mặt loài khỉ lùn này có đôi tai cũng to không kém. Đó chính là công cụ hổ trợ đắc lực để chúng có thể "nghe ngóng tình hình" từ các con mồi của chúng như côn trùng, chim, rắn, thằn lằn... Chi sau của chúng cũng là một đặc điểm nổi bật. Nó rất dài, đặc biệt là mu bàn chân. Đó cũng chính là yếu tố khiến chúng có một khả năng khá đặc biệt. Vào ban đêm, chúng có thể chuyền thoăn thoắt trên những cành cây với khoảng cách dài gấp 40 lần khoảng cách cơ thể.
2. Okapi
Okapi sống đơn lẻ phần thân giống hươu cao cổ nhưng phần trên giổng như ngựa vằn
Đừng cho rằng đây là một sản phẩm lai tạo của ngựa vằn và hươu cao cổ nhé! Đó là một loài động vật sinh trưởng ở vùng phía Bắc và Đông Bắc của nước Cộng Hòa Congo đó bạn.
Loài động vật cực kì thú vị hiện chỉ còn khoảng 10.000 đến 20.000 cá thể mà thôi. Chúng đang bị người dân địa phương săn bắt để lấy thịt.
Cũng giống như ngựa vắn và hươu cao cổ, chúng khá hiền lành. Thức ăn của chúng chỉ là cỏ dương xỉ và các loại lá non. Ngoài ra, các nhà khoa học còn phát hiện ra một điều khá thú vị. Để tốt cho quá trình tiêu hóa của chúng, chúng đã ăn các khúc cây bị cháy xém do sét đánh.
Tuổi thọ của một con Okapi là khoảng từ 15-20 năm. Những cô nàng thường mang thai 427 – 457 ngày trước khi sinh ra những đứa con bé bỏng. Các cô nàng Okapi thường giấu kín con mình trong bụi cây sau khi sinh. Các bé sẽ bị mẹ bắt cai sữa sau 6 tháng.
Hiện nay, sự biến đổi khí hậu khiến Trái đất nóng lên. Rừng bị khai thác bừa bãi. Các hoạt động săn bắt trái phép đang trở nên thường trực. Chính vì thế mà sự sống của những chàng và nàng Okabi bị đe dọa. Chúng ta chỉ còn biết hy vọng vào những nổ lực bảo tồn để loài động vật thú vị này không bị tuyệt chủng.
Okapi chỉ biết ăn cỏ, dương xỉ và lá non thôi!
3. Chuột chù Sao Tome
Những con chuột chù dài chỉ 8 cm. Nổi bật là hàm răng trắng nhỏ và chiếc bụng màu trắng.
Số phận của những chú chuột chù này coi bộ cũng khá bi đát! Bởi. Không chỉ vì số lượng loài còn lại khá ít mà còn vì môi trường sống của chúng đang bị thu hẹp. Người ta chỉ có thể tìm thấy chúng duy nhất ở hòn đảo Sao Tome - một hòn đảo nhỏ ở Đại Tây Dương nằm dưới chân một ngọn núi lửa vẫn còn đang hoạt động.
4. Chó sói đỏ
Nhìn chúng thật oai phong!
Chó sói đỏ còn được gọi bằng một cái tên khác rất "kêu" là chó sói lửa. Dĩ nhiên đó là một loài động vật ăn thịt thuộc họ chó.
Chúng có nguồn gốc từ Nam Á. Người ta từng cho rằng nó đã tuyệt chủng vào 1980. Thân dài 90 cm, đuôi dài 30 cm và bộ lông nổi bật màu hung đỏ. Chúng sống theo bầy đàn, số lượng vào khoảng 7-20 con. Chúng thường tập trung săn nai, hươu,... Đôi khi, chúng lại tập trung tấn công các bản làng để tìm kiếm thức ăn. Nhưng mà yên tâm các bạn ạ! Thịt người không phải là món khoái khẩu của chúng rồi!
5. Gấu túi mũi rậm lông phương Bắc
Những chú gấu túi rậm lông này có một bộ lông rất dày và mềm

Nhắc tới các loài thú có túi thì ta đóan được ngay quê quán của chúng là ở Úc rồi phải không? Chính xác là chú ta ở Bắc Úc. Con gấu túi này có một thân hình mập mạp, cái chân bè bè chắc nịch để chúng có thể dễ dàng đào hang dưới lòng đất. Chúng là loài gấu túi lớn nhất ở Úc đó nha! Một con gấu túi trưởng thành có độ dài 1 m và nặng 40 kg. Trông chúng thật vụng về và lạch bạch. Nhưng đừng xem thường chúng nha! Chúng có thể chạy nhanh đến 40 km/h lận đó. Tiếc là hiện tại chỉ còn khoảng 100 cá thể được bảo tồn ở một khu bảo tồn nhỏ ở Queensland.
6. Dơi đuôi màng.
Dơi đuôi màng cũng là loài "cực kì quí hiếm"
Những con dơi đuôi màng Seychelles thường được phát hiện ở đảo Silhouette, Mahé, Praslin và La Digue thuộc quần đảo Seychelles phía Bắc Madagascar.
Chúng tập trung thành bầy đàn và có khả năng sinh sản cao lắm! Nhưng rất không may là những con dơi này lại rất nhạy cảm với những thay đổi của môi trường. Chúng luôn phải tìm những vị trí đậu khác nhau để ngủ và tuổi thọ của chúng cũng không cao. Chính vì thế mà chúng phải nằm trong danh sách "cực kì quí hiếm" này. Ước tính hiện nay trên Trái đất chỉ còn khoảng 100 con.
7. Tê giác Javan
Những con tê giác Javan này trông thật đặc biệt!
Địa bàn sinh sống của những con tê giác Javan này ở các đảo của Indonesia, trải rộng toàn bộ Đông Nam Á, tới cả Ấn Độ và Trung Quốc. Hiện chúng đang ở trong tình trạng đặc biệt và cực kì nguy cấp. Người ta chỉ ghi nhận được hai quần thể ở môi trường tự nhiên và không có con nào ở trong vườn thú.
Sừng của loài tê giác này được coi như một loại dược liệu quí giá có giá trị cao trong y học phương Đông truyền thống (!?). Người ta bán chúng ở chợ đen với giá lên tới 30.000 USD một kí. Chính vì thế mà ngoài nguyên nhân bệnh tật và sự giảm sút đa dạng di truyền do giao phối cận huyết thì việc săn bắt trộm vô tội vạ là nguyên nhân chính khiến chúng trên bờ vực tuyệt chủng.
Hình ảnh con Tê giác cuối cùng ở Việt Nam lúc còn sống được máy chụp chụp ảnh tự động. Ảnh: WWF
Dấu chân - chứng tích về sự sống cuối cùng của con tê giác Javan cuối cùng ở Việt Nam - Ảnh Blog Vườn hoa
Ở Việt Nam, tê giác Javan đã bị tuyệt chủng. Nguyên nhân là do công tác bảo vệ yếu kém ở Vườn Quốc gia Cát tiên. Xác của con tê giác cuối cùng được tìm thấy vào tháng 4-2010. Sợ rằng, sau này, khi kể về loài tê giác cho con cháu của chúng ta, ta chỉ có thể nói: "Ngày xửa ngày xưa, có một loài động vật mang tên tê giác..."
8. Hổ khoang vàng
Với một kích thước lớn và một bộ lông vàng dâu ngọt ngào, những con hổ khoang vàng này trông rất bí hiểm!
Hổ khoang vàng còn được gọi là hổ dâu. Đây là một trường hợp biến đổi màu sắc rất hiếm được gây ra bởi gen lặn. Bởi thế nên người ta chỉ tìm thấy loài hổ này ở môi trường nuôi nhốt. Có khoảng 30 chú hổ khoang vàng được nuôi dưỡng tại các vườn thú trên toàn thế giới.
Với một bộ lông rất đẹp, dày và mịn màng, có thể nói chúng là hoa khôi trong thế giới các loài hổ. Một số tài liệu cho rằng chúng là sự kết hợp của hai dòng dõi hổ cực kỳ quí hiếm là Amur và Bengal. Hổ cũng đang đứng trước bờ vực tuyệt chủng do nạn săn bắt lấy da và cao hổ.
9. Cá heo nước ngọt.
Nhìn chú còn dễ thương hơn những chú cá heo sống ở biển!
Nhắc đến cá heo. Chắc hẳn bạn sẽ nghỉ đến biển cả. Nhưng đây là loài cá heo đặc biệt sống ở nước ngọt. Những con cá heo không vây này sống ở sông Trường Giang (sông Dương Tử), Trung Quốc. Được xem là một trong hai loài động vật lớn nhất ở con sông dài nhất Trung Quốc này. Người ta chỉ còn có thể đếm nó trên đầu ngón tay. Ước tính, chỉ còn khoảng 13 cá thể trong cuộc điều tra tít tận vào giữa các năm 1997 và 1999. Cá heo nước ngọt này thường bị đánh bắt bằng lưới hoặc chết do ô nhiễm công nghiệp ở sông Trường Giang. Mặc dù nhiều lệnh cấm đánh bắt chúng được đặt ra nhưng nhiều người vẫn làm ngơ. Đến năm 2007, người ta chỉ còn tìm thấy một cá thể tồn tại.
10. Rùa đảo Pinta
Và đây! Sinh vật hiếm nhất trên thế giới. Chú ta chính là biểu tượng cho những nổ lực bảo tồn của Galapagos nói riêng và quốc tế nói chung.
Sự xuất hiện của loài dê hoang trên đảo này khiến thảm thực vật ở Pinta bị mai một đáng kể. Sau khi được phát hiện "George côn đơn" này đã được chuyển ngay về Trung tâm Nghiên cứu Charles Darwin. Tuổi của chú rùa ta hiện nay được ước tính khoảng 60-90 tuổi và đang trong tình trạng sức khỏe tốt.
Bạn thấy đấy. Những loài sinh vật trên đều rất đặc biệt. Nhiều loài tưởng chừng như đã bị tuyệt chủng. Có loài chắc chắn là sẽ không còn trong nay mai. Mỗi loài sống trên Trái đất đều có chức năng nhất định trong hệ sinh thái. Mất đi một mắc xích có thể sẽ kéo theo sự tuyệt chủng của nhiều mắc xích khác. Con người thường săn bắt những loài động vật quí hiếm. Họ cho rằng thức ăn từ một trong số chúng có lợi cho mình. Họ không biết rằng hành động đó là gây hại trực tiếp đến họ. Con người lần lượt điền tên các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng vào sách đỏ. Và cứ tiếp tục như thế, không biết khi nào chính chúng ta lại điền tên ta nhỉ?

Những loài thực vật quí hiếm ở Việt Nam

Tiếp theo loạt bài của mình. Tuần này, một câu hỏi được đặt ra là "thực vật có thể bị tuyệt chủng được hay không?". Câu trả lời là Có. Theo một công trình nghiêng cứu Vườn thực vật Hoàng gia Anh phối hợp với Viện bảo tàng lịch sử thiên nhiên của nước này và Liên đoàn quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN) thực hiện thì các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ngang với động vật có vú cao hơn chim và chỉ thấp hơn động vật lưỡng cư và san hô.
Ngoài yếu tố con người, thực vật còn tuyệt chủng do sự Biến đổi khí hậu. Theo tiến sĩ David Bramwell - giám đốc Vườn bách thảo Jardin ở Las Palmas, Tây Ban Nha thì: “Khoảng một nửa trong số 40.000 loài thực vật trên trái đất và 100.000 loài thực vật chưa được phân loại có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ tăng thêm 2-3 độ C trong vòng 100 năm tới”.
Bài viết giới thiệu một số thực vật quý hiếm ở Việt Nam. Phần nhiều trong số chúng nằm trong Sách Đỏ Việt Nam.
1. Thông Tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri Foxw)

Là cây gỗ nhỏ, dạng bụi. Mọc trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh hoẵc rừng lùn ở đỉnh núi. Ở Việt Nam, cây thường phân bố trên vùng cận đỉnh các dông núi đá vôi ở Lào Cai, Đồng Văn (Hà Giang), Đông Triều (Quảng Ninh), Pà Cò (Hòa Bình), đảo Phú Quốc (Kiên Giang).

Cây có hạt hình cầu, màu xanh; đế hạt mọng, màu đỏ, chuyển dần sang tím sẫm khi hạt chín. Hạt chín vào cuối thu hàng năm, khả năng tái sinh bằng hạt tốt. Đây là một loài hiếm.
2. Thông Pà cò (Pinus kwangtungensis)

Là một loại cây gỗ to

Có chồi đông. Lá mọc 5 chiếc một ở đầu cành ngắn và các cành ngắn này lại mọc chụm trên đầu cành dài. Lá hơi cong

Mọc thành các dải rừng trên các đường đỉnh và đỉnh núi và đá vôi. Ở Việt Nam, cây phân bố ở Đức Hồng (Cao Bằng), Pà Cò (Hòa Bình), Chư Yang Sin (Đắc Lắc).

Cây đang ở trong tình trạng sẽ nguy cấp.
3. Thông năm lá Đà Lạt (Pinus dalatensis)

Thuộc dạng cây gỗ to, có tán hình nón thưa. Là một loài đặc hữu của Việt nam. Gặp từ Thừa Thiên Huế đến Tây Nguyên: Kontum, Lâm Đồng.
Pinus dalatensis (Thông Đà Lạt) ở Đà Lạt
Cây có thể cao đến hơn 30m và đường kính thân 0,6 - 0,8m.

Đây là một loài hiếm. Có thể bị đe dọa tuyệt chủng do bị thu hẹp môi trường sống và chưa thấy tái sinh.
4. Thông hai lá dẹt (Pinus krempfii)
Là một loại cây gỗ to. Là loài đặc hữu của Việt Nam, mới chỉ gặp ở núi Vọng Phu (Khánh Hoà), suối Vàng, đèo Ngoạn Mục (Lâm Đồng).

Đặc điểm nổi bậc nhất lá lá hình dải mác nhọn đầu.

Do rừng ngày càng bị thu hẹp nên, loài đang bị đe dọa tuyệt chủng.
5. Thông đỏ (Taxus wallichiana)

Là loại cây gỗ nhỡ. Mọc rất rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh. Ở Việt Nam cây phân bố ở Nha Trang (Khánh Hoà), Đà Lạt (Lâm Đồng).

Lá mọc xoắn ốc, xếp thành hai dãy.

Là một loài quí hiếm. Gỗ tốt, vỏ thân chứa Tanin. Hạt nhiều dầu béo.
6. Mun (Diospyros mun)

Cây gỗ nhỏ, rụng lá.

Cây mọc rải rác hay thành từng đám nhỏ trong trảng cây bụi cao rậm, chịu hạn trên đất nghèo ở gần biển, nơi có độ cao thường không quá 100m. Ở Việt Nam cây phân bố ở Khánh Hòa, Ninh Thuận.

Gỗ có giá trị cao nên các chủng mọc tự nhiên bị tìm kiếm ráo riết để khai thác làm cho số lượng cá thể giảm sút rất nhanh.
7. Hoàng đàn (Cupressus torulosa)

Cây gỗ nhỡ.

Mọc rải rác đôi khi thành đám nhỏ trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh. Đang ở trong tình trạng đang nguy cấp. Loài đã bị khai thác rất ráo riết để lấy gỗ thân và gỗ rễ, chủ yếu để làm bột hương. Số lượng cá thế còn lại rất ít. Cây lại tái sinh rất khó khăn
8.  Gõ đỏ (Cà te) (Afzelia xylocarpa)

Cây gỗ to rụng lá, cao tới 30m, đường kính thân 0,8 - 1m. Vỏ màu xám, sần sùi, trên mặt có nhiều lỗ màu nâu. Mọc ở rừng mưa nhiệt đới thường xanh hay rừng nửa rụng lá mưa mùa.


Quả đậu to, gần không cuống. Loài đặc hữu của Đông Dương. Ở Việt Nam Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Khánh Hoà, Sông Bé , Đồng Nai, Tây Ninh.

Do gỗ rất quý nên gõ đỏ bị săn lùng ráo riết để khai thác. Ngoài ra môi trường sống của nó cũng bị phá hủy và thu hẹp nhiều. Vì vậy số lượng cá thể giảm sút rất nhanh chóng, rất ít khi còn gặp cây cỏ kích thước lớn.
9. Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus)

Ngoài tên gọi là Giáng hương ra, chúng còn được gọi là: giáng hương quả to, giáng hương căm-pôt, giáng hương chân, song lã. Cây gỗ to có tán lá hình ô. Phân bố chủ yếu trong rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá. Ở Việt Nam, cây được tìm thấy ở Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Yên , Đồng Nai, Tây Ninh.

Cụm hoa hình chùy ở nách lá, phủ lông màu nâu. Hoa màu vàng nghệ, có cuống dài và nhiều lông, mùi rất thơm. Gỗ Giáng hương quả to khá đẹp, có mùi thơm nhẹ, cứng, vân hoa đẹp, ít nứt nẻ, không bị mối mọt. Giáng hương là loài cây có chứa hoạt chất chữa bệnh đái tháo đường tuýp 2. Nhựa của chúng có thể làm thuốc nhuộm màu đỏ rất tự nhiên. Vì thế nó bị khai thác rất mạnh và môi trường sống cũng bị thu hẹp nhiều. Số lượng cây bị giảm rất nhanh chóng. Nếu mình nhớ không lằm thì bạn có thể tìm thấy nó trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn.
10. Cẩm lai (Dalbergia cochinchinensisi)

Cây gỗ to, có tán hình ô. Mọc rải rác hoặc thành từng đám trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh hay rừng nửa rụng lá mưa mùa. Loài đặc hữu của Đông Dương. Ở Việt Nam loài gặp ở nhiều tỉnh phía Nam như: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh.

Do gỗ quí, ngoại hạng, nên cẩm lai đang bị săn lùng ráo riết và môi trường sống cũng bị thu hẹp nhanh chóng. Ngày nay, ngay ở các vùng trước đây có nhiều như Đồng Nai, Đắc Lắc.. cũng khó tìm được cây có đường kính lớn. Nhiều vùng gần như vắng hẳn bóng loài cây quí này.
11. Đỉnh Tùng (Cephalotaxus hainanensis).

Cây gỗ nhỏ, thường xanh. Mọc rất rải rác trong tầng cây gỗ nhỏ hay tầng cây bụi trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm. Ở Việt Nam cây phân bố ở Hà Tây, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Kontum, Gia Lai, Lâm Đồng...

Là loài hiếm, rất ít gặp trong rừng rậm nguyên sinh vùng núi thấp.
12. Dẻ tùng trắng (Amentotaxus argotaenia)

Cây nhỡ. Mọc rất rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, trên sườn núi đất và núi đá vôi. Phân bố ở Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mọc ở rừng Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình. Gỗ có thể dùng đóng đồ đạc thông thường, làm nông cụ. Hạt chứa tới 50% dầu béo, có thể dùng trong việc chế xà phòng.Có thể trồng làm cây cảnh.Loài hiếm, có số lượng cá thể rất ít, nên đã được đưa vào Sách đỏ.
Yêu Môi Trường
Ảnh Internet