Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

Những món "đồ chơi đặc biệt" đã biến mất của trẻ em thành phố


Đi tìm bắt các loài côn trùng là thú vui “tao nhã” của trẻ em thành phố thời xưa, thời nay dần bị lãng quên vì nhiều lý do.

Các loài côn trùng ngộ nghĩnh, muôn dáng vẻ luôn là niềm đam mê của thế hệ trẻ em Hà Nội những năm 1990 trở về trước. Chẳng có đứa trẻ nào thuộc thời kỳ đó lại chưa từng buộc dây vào một chú chuồn chuồn cho bay vù vù đầy thích thú, hoặc mân mê một chú châu chấu xanh biếc trên bàn tay như một món đồ chơi đặc biệt.
Ngày nay, quá trình đô thị hóa cùng sự ô nhiễm môi trường khiến nhiều loài côn trùng trở nên hiếm hoi tại các thành phố. Trẻ em thành thị cũng có nhiều niềm vui thú mới. Vì vậy mà những món “đồ chơi thiên nhiên” của trẻ em một thuở dường như đã bị lãng quên…
Dế mèn, con vật nổi tiếng trong tác phẩm văn học của nhà văn Tô Hoài là một niềm đam mê của rất nhiều trẻ em. Để bắt được dế, bọn trẻ phải đổ dế, một trò vui bất tận vào mỗi mùa hè. Nhưng hứng thú hơn vẫn là chơi chọi dế. Những chú dế thường được kích cho hăng máu bằng cách “quay dế” và lao vào đánh nhau dữ dội bằng cặp hàm và đôi càng rất khỏe.
Những chú ve xuất hiện vào đầu mùa hè, khi bọn học trò bắt đầu kỳ nghỉ dài của mình. Có vô số trò hay với loài côn trùng này như nhặt xác ve, “câu” ấu trùng ve, ngắm ve lột xác hay bắt ve vào buổi đêm… Ve thường được chia làm hai loại là ve sầu và ve kim, trong đó ve kim nhỏ hơn và có tiếng kêu chói tai hơn.
Bọ ngựa thường sống trên các thân cây, là một con côn trùng ngộ nghĩnh, trông giống hệt như một võ sĩ đang thủ thế. Khi “nghịch” con vật này phải cẩn thận vì càng của nó kẹp khá đau.

Cánh cam là một loài bọ cánh cứng tuyệt đẹp, thường bay vù vù trên trời vào mùa thu. Chơi với cánh cam là điều rất tuyệt, nhưng cần cẩn thận kẻo chúng “phóng uế” vào tay, vì sẽ có mùi rất hôi.

Chuồn chuồn bay rất nhanh, nhưng bọn trẻ có vô số cách để bắt những con côn trùng này, từ cách “thô thiển” như dùng tay chụp, lấy dép ném… cho đến biện pháp “khoa học” như lấy gậy quay vòng vòng làm chúng chóng mặt. Có nhiều loại chuồn chuồn khác nhau như chuồn chuồn điếu, chuồn chuồn ớt, chuồn chuồn ngô, tất cả đều gắn với huyền thoại “chuồn chuồn cắn rốn biết bơi”. Vì vậy mà nhiều đứa trẻ đã chịu đau để cho chuồn chuồn… cắn vào rốn mình.
Những chú kim kim, hay chuồn chuồn kim có rất nhiều màu sắc khác nhau, thường được bắt bỏ vào những chiếc lọ trong suốt, nhìn rất thú vị.
“Ngày xưa”, bất kỳ chỗ nào có cỏ mọc ở Hà Nội là chỗ đó có châu chấu. Chỉ cần đá vào bụi cỏ là châu chấu nhảy ra tứ phía, nhưng chỉ những chú châu chấu to, xanh biếc, có cánh dài mới bị bắt. Những con châu chấu non chưa mọc cánh hoặc châu chấu ma nâu xỉn hầu như không được đoái hoài đến.

Những con cào cào là họ hàng của châu chấu, có hình dáng nhọn hoắt như quả tên lửa cũng rất được ưa thích. Con vật này có đôi cánh bên trong màu hồng tươi rất đẹp.
Muồm muỗm có nhiều loại khác nhau, có đặc điểm chung là con đực luôn có một “lưỡi dao” ở đuôi. Không chỉ để chơi, muồm muỗm còn là món ăn khoái khẩu khi được nướng lên.
Những con xén tóc có thân hình cứng như thép và cặp hàm sắc lẹm như chiếc kéo quả thực là một thợ cắt tóc cừ khôi. Thử thả chúng trên đầu, những sợi tóc sẽ bị chúng xén rơi xuống lả tả.
Cà cuống là loài côn trùng khổng lồ sống dưới nước. Vào những buổi tối mùa hè chúng thường bay quanh các ngọn đèn đường và trở thành đối tượng “săn bắt” của trẻ em. Nhiều đứa nướng những con côn trùng này lên để thưởng thức vị cay, thơm độc đáo của bọng tinh dầu cà cuống đực hoặc vị bùi của buồng trứng cà cuống cái.
Dế trũi như những con chuột trũi, thường ẩn mình trong lòng đất. Đôi khi chúng cũng “nổi hứng” lang thang trên mặt đất và bị những đứa trẻ hiếu động nhanh tay chộp lấy.
Những chú bươm bướm màu sắc sặc sỡ là đối tượng được nhiều học sinh săn lùng cho thú vui sưu tầm bướm ép khô.
Đom đóm là loài côn trùng “kỳ diệu”, vì chúng có thể phát sáng như những ngọn đèn, thường xuất hiện ở những nơi nhiều cây cối vào các buổi tối mùa hè. Chỉ cần bắt đầy đom đóm bỏ vào một chiếc túi nylon hoặc chai nước là có ngay chiếc đèn nhấp nháy liên tục.
Sâu róm - ấu trùng của bướm - có rất nhiều loại khác nhau nhưng nhìn chung đều có vẻ ngoài lông lá trông cực kỳ gớm ghiếc, vì vậy nó trở thành đối tượng lý tưởng để đem đi doạ những cô bé "nhát gan".
Và còn rất nhiều, rất nhiều món "đồ chơi đặc biệt" khác nữa...

Thú chơi 'quốc khuyển' ở Việt Nam

Trong mắt đại đa số mọi người thì các giống chó bản địa Việt Nam chủ yếu được nuôi vất vưởng để trông nhà ăn cơm thừa canh cặn và có thể để bán hoặc làm thịt... Ít khi họ quan tâm đến những con chó gọi được gọi là "chó ta".
“Tại sao đất nước chúng ta có rất nhiều giống chó quý hiếm và rất khôn ngoan, trung thành, nhưng lại ít được tôn trọng và quan tâm? Tôi hàng ngày dắt chó ra công viên chơi, mấy anh trật tự phường hay công an hay đứng chốt ở ngã tư thường hay đùa: Sao chú không kiếm con chó tây to mà nuôi, nuôi làm gì mấy con chó ta này!? 
 

Đó là những lời tâm sự của anh Hoàng Thành Quang, người sáng lập diễn đàn Quốc khuyển (quockhuyen.com), một sân chơi dành cho những người yêu thích các giống chó nội địa của Việt Nam. Hiện, anh đang nuôi một đàn gồm 5 chú chó tại ngôi nhà nằm sâu trong ngõ 2 Láng Hạ (Ba Đình, Hà Nội).
Theo anh Quang, 4 giống chó chủ yếu được những người nuôi “quốc khuyển” quan tâm hiện này là chó H'mông cộc đuôi, chó Phú Quốc, chó Bắc Hà và chó Dingo Đông Dương. Ngoài ra, ở Việt Nam còn một số giống chó khác, nhưng chưa có các tiêu chuẩn rõ ràng trong giới chơi chó. Đàn chó của anh có đủ đại diện của 4 giống chó chính.

Chú chó đầu đàn tên là Bush, thuộc giống Dingo Đông Dương. Anh Quang nhớ về sự hiện diện của chú chó này: “Cách đây 7 năm, một người thợ xây tại nhà tôi nói rằng bố anh ta mới bắt được một ổ chó rừng ở Thái Nguyên, và hỏi tôi muốn nuôi không. Tôi nhận ngay một chú, dù lúc đó chí coi nó như một con chó ta bình thường. Sau này tìm hiểu thì mới biết Bush thuộc giống chó Dingo. Nó rất ‘đầu gấu’, cứ được thả ra đường là tìm cách gây sự, đánh nhau với chó nhà khác, các con trong đàn cũng sợ nó một phép. Với chủ thì Bush thật sự là một người bạn thân, tuyệt đối trung thành”.

Ngoài Bush, trong đàn còn có một chú Dingo Đông Dương khác tên là Boo, 5 tháng tuổi. Dingo Đông Dương là một giống chó nguyên thủy đặc trưng tại các vùng trung du và miền núi của Việt Nam, tại. Rất khôn ngoan và dữ dằn, chúng được đồng bào dân tộc nuôi để giữ nhà và làm chó săn. Dingo Đông Dương thường có 2 màu lông vàng và đen, chó thuần chủng phải có "4 chân đi bít tất trắng, đuôi bông lau và chóp đuôi trắng".

“Phó đàn” là chó Bill, chú chó 1 tuổi thuộc giống Phú Quốc. Đây là giống chó nổi tiếng được người dân đảo Phú Quốc (Kiên Giang) sử dụng trong việc săn bắt từ hàng trăm năm nay. Điểm nổi bật của những chú chó Phú Quốc là thể lực dẻo dai, tốc độ nhanh, di chuyển linh hoạt, biết leo trèo, nhảy cao, bơi lội, khả năng phối hợp tác chiến bầy đàn tốt… Những đặc điểm này khiến chó Phú Quốc trở thành những trợ thủ rất đắc lực cho các phường săn.

Bear là tên của chú chó 7 tháng tuổi thuộc giống H’mông cộc đuôi - giống chó bản địa cổ xưa của người dân tộc H’Mông ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam. Ngoại hình của chúng khá đặc trưng với vẻ chắc nịch, đầy cơ bắp và chiếc đuôi cụt ngộ nghĩnh. Thể lực tốt và rất bền bỉ, chó H’Mông cộc đuôi có khả năng thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau một cách linh hoạt. 

Nhỏ nhất đàn là chú chó tên Bom, 4 tháng tuổi, thuốc giống Bắc Hà. Đây là tên gọi của giống chó bản địa sinh sống tại vùng Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Chó Bắc Hà thường có lông xù, to cao, có con có bờm rất đẹp, mầu lông có các mầu khác nhau như màu đen, vàng, vện, xám hoặc đen-trắng. Một số ít có màu hung đỏ. Đây là loài chó thông minh, dễ huấn luyện và rất kỷ luật.

Do có nguồn gốc “rừng rú” nên những chú “quốc khuyển” không quen bị xích một chỗ hoặc nhốt trong nơi tù túng. Người nuôi thường thả chúng trong sân nhà và dắt chó đi dạo ít nhất 1 tiếng mỗi ngày. Việc xích một thời gian dài có thể làm chó bị ức chế và trở nên hung dữ.

Việc nuôi đàn chó 5 con của anh Quang khá đơn giản và không mấy tốn kém. Thức ăn cho chó chỉ cần cơm trộn ngô xay, phổi lợn nấu chín, có thể trộn thêm hoa quả, ngũ cốc, mỗi ngày cho chó ăn 2 lần. Tính ra chi phí thức ăn cho chó mỗi tháng chỉ trên dưới 500.000 đồng. So với việc nuôi chó ngoại thì chi phí này quả là rất “bèo bọt”. Thế mà đàn chó của anh còn nào con nấy cũng “phây phây”.

“Tôi đã gặp một cậu có con chó Rott hay dắt ra công viên. Cậu mới đi làm thôi, tôi có hỏi thì nghe nói lương mới tầm 3tr/tháng. Nhưng cậu ấy nói con Rott của cậu ăn hết 1kg thịt bò bạc nhạc sống một ngày. Tôi hỏi giá thì nói là hay mua loại 60k/kg. vậy riêng chi phí tiền thịt đã là 2 triệu đồng mỗi tháng!”, anh Quang kể.

Từ trước đến nay giới chơi chó hầu như chỉ quan tâm đến các giống chó ngoại, trong khi giá trị của các giống chó nội gần như bị lãng quên. Anh Quang cho rằng chó nội thực sự khôn hơn chó ngoại, bởi các giống chó của nước ngoài hầu hết là sản phẩm lai giống nhân tạo, nếu không dạy dỗ từ nhỏ thì chẳng biết làm gì cả. Các giống chó nội thì được tạo nên từ quá trình chọn lọc tự nhiên, thích nghi với lối sống hoang dã nên sớm thuần thục các kỹ năng săn mồi, tự vệ…
Diễn đàn Quốc khuyển của anh Quang dù mới thành lập được khoảng nửa năm nhưng đã thú hút được sự quan tâm của hàng trăm người có chung niềm đam mê với các giống chó Việt Nam. Các thành viên của Quốc khuyển đang tiến hành áp dụng phương thức quản lý chó theo tiêu chuẩn quốc tế, theo đó mỗi chú con chó sẽ được cấp một cuốn số ghi lại ngày sinh, nguồn gốc xuất xứ, tình trạng tiêm phòng… và nhiều dữ liệu khác. 
Anh Quang chia sẻ: “Làm thế nào để các giống chó của chúng ta được chính người dân hiểu và yêu chuộng hơn? Nói đến giống chó ta, phần lớn người Việt sẽ nghĩ đến ‘chó cỏ’ là loại chó lai lung tung giữa nhiều giống chó khác nhau. Chúng tôi đang hướng đến việc khôi phục, bảo tồn các giống chó ‘chuẩn’ của Việt Nam, cũng như quảng bá hình ảnh, thúc đẩy người dân công nhận giá trị của các giống chó thuần Việt”.

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Cây đom đóm-Alchornea tiliifolia (Benth.)

Đom đóm: Alchornea tiliifolia (Benth.) Muell.-Arg. - Lá dùng chữa sởi. Cây mọc tự nhiên phổ biến trên các đồi đá sỏi vùng trung du, vùng núi khắp Việt Nam.




Alchornea tiliifolia










































Centella -Chi rau má





  1. Centella abbreviata (A. Rich.) Nannf.
  2. Centella affinis (Eckl. & Zeyh.) Adamson
  3. Centella annua M.Schub. & B.-E.van Wyk
  4. Centella asiatica (L.) Urb.
  5. Centella brachycarpa M.Schub. & B.-E.van Wyk
  6. Centella caespitosa Adamson
  7. Centella calcaria M.Schub. & B.-E.van Wyk
  8. Centella callioda (Cham. & Schltdl.) Drude
  9. Centella calliodus (Cham. & Schltdl.) Drude
  10. Centella capensis (L.) Domin
  11. Centella cochlearia (Domin) Adamson
  12. Centella comptonii Adamson
  13. Centella cordifolia (Hook.f.) Nannf.
  14. Centella coriacea Nannf.
  15. Centella cryptocarpa M.T.R.Schub. & B.-E.van Wyk
  16. Centella debilis (Eckl. & Zeyh.) Drude
  17. Centella dentata Adamson
  18. Centella didymocarpa Adamson
  19. Centella difformis (Eckl. & Zeyh.) Adamson
  20. Centella dolichocarpa M.Schub. & B.-E.van Wyk
  21. Centella erecta (L.f.) Fernald
  22. Centella eriantha (A.Rich.) Drude
  23. Centella flexuosa (Eckl. & Zeyh.) Drude
  24. Centella fourcadei Adamson
  25. Centella fusca (Eckl. & Zeyh.) Adamson
  26. Centella glabrata L.
  27. Centella glauca M.Schub. & B.-E.van Wyk
  28. Centella graminifolia Adamson
  29. Centella gymnocarpa M.T.R.Schub. & B.-E.van Wyk
  30. Centella laevis Adamson
  31. Centella lanata Compton
  32. Centella lasiophylla Adamson
  33. Centella linifolia (L.f.) Drude
  34. Centella longifolia (Adamson) M.T.R.Schub. & B.-E.van Wyk
  35. Centella macrocarpa (A.Rich.) Adamson
  36. Centella macrodus (Spreng.) B.L.Burtt
  37. Centella montana (Cham. & Schltdl.) Domin
  38. Centella obtriangularis Cannon
  39. Centella pilosa M.Schub. & B.-E.van Wyk
  40. Centella pottebergensis Adamson
  41. Centella recticarpa Adamson
  42. Centella restioides Adamson
  43. Centella rupestris (Eckl. & Zeyh.) Adamson
  44. Centella scabra Adamson
  45. Centella sessilis Adamson
  46. Centella stenophylla Adamson
  47. Centella stipitata Adamson
  48. Centella ternata M.Schub. & B.-E.van Wyk
  49. Centella thesioides M.Schub. & B.-E.van Wyk
  50. Centella tridentata (L.f.) Drude ex Domin
  51. Centella triloba (Thunb.) Drude
  52. Centella umbellata M.Schub. & B.-E.van Wyk
  53. Centella uniflora
  54. Centella villosa L.
  55. Centella virgata (L.f.) Drude












Rau má núi - Geophila repens (L.)

Rau má núi - Geophila repens (L.) Johnston. Dùng 10 - 20g lá, sắc uống. Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Hoà Bình, Bà Rịa - Vũng Tàu. Cây mọc tự nhiên rải rác trong rừng thường xanh, ở độ cao dưới 1.000 m.


























Đay dại - Corchorus aestuans L.

Đay dại - Corchorus aestuans L. - Cả cây giã nát tắm cho trẻ em bị bệnh sởi làm cho sởi mau mọc. Cây mọc hoang dại nhiều nơi ở Việt Nam (ven đường, trong vườn,…). Trông giống cây Đay trắng, nhưng thân bò.















nho chuỗi ngọc-Ribes

Cư dân mạng đang xôn xao về một loại quả có giá đắt trên trời lên tới 2 triệu đồng/kg. Loại quả này được nhiều người quan tâm tìm mua bởi vị chua thanh, không ngọt nhưng vô cùng hấp dẫn. Mỗi quả có kích thước bằng đầu ngón tay, quả chín mọng đẹp mắt, có thể nhìn thấu vỏ vào phía bên trong.
Quả có 4 màu đỏ, đen, hồng và trắng mỗi khi chín. Chính vì những đặc điểm này mà người Việt gọi thứ quả này với cái tên vô cùng kiêu sa là nho chuỗi ngọc trong suốt.
nho chuoi ngoc trong suot gia 2 trieu dong/kg la...cay dai hinh anh 1
Cây lý chua mọc nhan nhản trên đường phố và trong các khu rừng tại Châu Âu.
Thế nhưng sự thật về loại quả nghe tên có vẻ sang chảnh này lại khiến những người từng bỏ số tiền không nhỏ ra mua về nhà “hưởng thụ” phải bất ngờ. Bởi “nho chuỗi ngọc” vốn dĩ là một loại quả mọc ven đường tại các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan… có giá quy ra tiền Việt khoảng  250.000 – 400.000 đồng/kg.
nho chuoi ngoc trong suot gia 2 trieu dong/kg la...cay dai hinh anh 2
Theo chị Lương Hạnh, Việt kiều sinh sống tại Anh cho biết, người dân ở đây rất ít khi coi “nho chuỗi ngọc” như một loại hoa quả sử dụng thường ngày. Do vị chua và quả bé mà hạt to nên thường được dùng để làm mứt bánh mỳ, ngâm nước uống, trang trí bánh, trộn salad,… Về cơ bản, đối với những người sống tại các quốc gia trên thì đều coi đây là loại cây hết sức bình thường, thậm chí còn dễ mọc tới mức được coi là cây dại.
nho chuoi ngoc trong suot gia 2 trieu dong/kg la...cay dai hinh anh 3
Nhiều gia đình tại Anh, Pháp và Đức trồng “nho chuỗi ngọc” ngay trong sân vườn một cách dễ dàng. Tên thật của loại quả này là Ribes (quả lý chua), được trồng tại các khu vực ôn đới. Loại quả này thường thu hoạch mỗi năm một lần. Tuy là loài cây dại mọc một cách dễ dàng, thế nhưngquả lý chua có tác dụng rất tốt cho sức khoẻ con người, thế nên được người châu Âu ưa chuộng. Quả lý chua có hàm lượng vitamin C cao, tốt cho tim mạch, là một loại thuốc bổ tự nhiên.

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

HÀ THỦ Ô ĐỎ (Radix Fallopiae multiflorae)

Còn gọi là cây giao đằng, dạ hợp, địa tinh. Rễ phình to thành củ. Củ là một vị thuốc bổ, chữa các bệnh thần kinh; làm đen râu, đen tóc.

1. Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum Thunb.).
2. Họ:Rau răm (Polygonaceae).
3. Tên khác:Dạ hợp, giao đằng, thủ ô, địa tinh, khua lình (Thái), mằn năng ón (Tày), xạ ú sí (Dao)
4. Mô tả:
Cây: Dây leo, sống nhiều năm. Thân rễ phồng thành củ. Thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân. Lá mọc so le, có cuống dài. Phiến lá hình tim, dài 4 - 8cm, rộng 2,5 - 5cm, đầu nhọn, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hạị mặt đều nhẵn. Bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt, ôm lấy thân. Hoa tự chùm nhiều nhánh. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau ở kẽ những lá bắc ngắn, mỏng. Bao hoa màu trắng, 8 nhụy (trong số đó có 3 nhụy hơi dài hơn). Bầu hoa có 3 cạnh, 3 vòi ngắn rời nhau. Đầu nhụy hình mào gà rủ xuống. Quả 3  góc, nhẵn bóng, đựng trong bao hoa còn lại, 3 bộ phận ngoài của bao hoa phát triển thành cánh rộng, mỏng, nguyên.
Dược liệu: Rễ củ hình tròn, dài, không đều, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi theo chiều dọc, hay chặt thành từng miếng to. Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng màu nâu sẫm, mô mềm vỏ màu đỏ hồng, có nhiều bột, ở giữa có ít lõi gỗ. Vị chát.
5. Phân bố:
Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn. Hiện nay, Hà thủ ô được trồng ở nhiều nơi vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.
6. Trồng trọt:
Hà thủ ô đỏ là cây mọc hoang ở những vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ thích hợp 20-25oC. Ở miền núi, có năm nhiệt độ xuống thấp về mùa đông, cây vẫn tồn tại trong đất. Lượng mưa trung bình năm 1500-1800mm, pH = 5-6,5. Đất cao ráo, ẩm, thoát nước.
Thời vụ trồng vào mùa thu (tháng 8-9) và mùa xuân (tháng 2-3). Vụ sau tốt hơn vì có mưa xuân, độ ẩm thích hợp, nhiệt độ vừa phải, cây chóng nẩy mầm.
Chọn đất cao ráo, thoát nước, tơi xốp, nhiều mùn, giàu chất dinh dưỡng. đất được cày bừa hay cuốc để ải, vơ sạch cỏ và rễ cây, đánh luống cao 25-30cm, rộng 30-40cm, nếu trồng 1 hàng như khoai lang, hoặc 70-80cm nếu trồng 2 hàng.
Hà thủ ô đỏ là cây cho củ, nên cần nhiều tro mùn, phân chuongf mục có thể bón lót 20-30 tấn/ha, không nên trồng chay. Thành phần chủ yếu gồm lân, kali, còn phân đạm để bón thúc cùng với phân chuồng, nước giải pha loãng vào tháng 4,5,6.
Có thể trồng bằng củ đường kính 3-5cm. Đặt mầm củ vào từng hốc, trên luống sau khi đã bón phân lót, rồi vùi đất cho thật chặt, khoảng cách 30-35cm. Tưới nước.
Có thể trồng bằng dây. Lấy các đoạn dây bánh tẻ cso nhiều đốt, hay các đoạn thân sát mặt đất có nhiều mầm. Cắt từng đoạn dài 30-40cm, đặt xuống rạc luống như trồng khoai lang với khoảng cách 30-35cm. Sau đó lấp đất ấn chặt, chỉ độ 1/2-1/3 dây thò lên mặt đất. Cách trồng bằng dây phổ biến hơn trồng bằng củ vì hết ít vốn, vận chuyển dễ, chóng thu hoạch và hệ số nhân giống cao. Hà thủ ô đỏ là dây leo, cho nên phải làm giàn. Hàng tháng, cần làm cỏ, xáo xới cho đất thoáng, tơi xốp, kết hợp với bón thúc như nước phân, nước giải, phân đạm pha loãng. Bón vào các tháng khi cây đang đẻ nhánh và phát triển như 2 tháng tuổi, 3 tháng tuổi và 5 tháng tuổi.
Trồng Hà thủ ô đỏ khoảng 2-3 năm là có thể thu hoạch. Nếu để quá lâu nhất là ở đất ruộng, củ dễ bị thối hỏng.
7. Bộ phận dùng:
Rễ củ phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson).
8. Thu hái, chế biến:
Thu hoạch vào mùa thu, khi lá khô úa, đào lấy củ cắt bỏ hai đầu, rửa sạch, củ to cắt thành miếng, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi thì tốt hơn.
Thu hoạch cây mọc hoang vào mùa thu. Thu hoạch cây trồng vào mùa đông khi cây đã tàn lụi. Đào về rửa sạch, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ ra, đồ rồi phơi hoặc sấy khô. Khi dùng nấu với nước đậu đen, có nhiều cách làm:
Đỗ đen giã nát cùng ngâm với hà thủ ô đã thái miếng trong một đêm, sáng ra đem đồ lên rồi phơi nắng, lại ngâm đỗ đen trong một đêm rồi lại đồ, phơi. Làm như vậy 9 lần (đông y gọi là cửu chưng cửu sái).
Củ hà thủ ô ngâm với nước vo gạo 24 giờ, rửa lại rồi cho vào nồi, cứ 10kg hà thủ ô, cho 100g đỗ đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn, đảo luôn cho chín đều. Khi củ đã mềm, lấy ra bỏ lõi. Nếu còn nước đỗ đen thì tẩm phơi cho hết. Đồ, phơi được 9 lần là tốt nhất.
9. Thành phần hoá học:
Củ hà thủ ô chứa 1,7% anthraglycosid, trong đó có emodin, physcion, rhein, chrysophanol. 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,45 các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin).
Lúc chưa chế, hà thủ ô chứa 7,68% tanin, 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần. Sau khi chế, còn 3,82% tanin, 0,1127% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần.
10. Tác dụng dược lý:
10.1. Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol huyết thanh, được chứng minh rõ trên mô hình gây cholesterol cao ở thỏ nhà, thuốc còn có tác dụng làm giảm hấp thu cholesterol của ruột thỏ, theo tác giả, thuốc có thành phần hữu hiệu kết hợp với cholesterol (Tân y học, 5 - 6, 1972). Thuốc có tác dụng phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch. Có thể tác dụng giảm xơ cứng động mạch và do thuốc có thành phần Lecithin (Tân y học, 5 - 6, 1972).
10.2. Thuốc làm chậm nhịp tim. Làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành và bảo vệ được cơ tim thiếu máu.
10.3. Thuốc giữ được tuyến ức của chuột nhắt già không bị teo mà giữ được mức như lúc chuột còn non, tác dụng này có ý nghĩa chống lão hóa nhưng cơ chế còn cần nghiên cứu thêm.
10.4. Thuốc có tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột (Trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược - Nhà xuất bản Khoa học xuất bản 1965, trang 345 - 346). Hà thủ ô sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn Hà thủ ô chín.
10.5. Tác dụng kháng khuẩn và virus: thuốc có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lao ở người và trực khuẩn lỵ Flexner. Thuốc có tác dụng ức chế virus cúm (Học báo Vi sinh vật 8,164, 1960).
11. Công năng:
Bổ huyết giữ tinh, hoà khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương, nhuận tràng.
12. Công dụng:
Bổ máu, chống viêm. Chữa thận suy, yếu gan; thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém; sốt rét mạn tính, thiếu máu, ít sữa; các bệnh của phụ nữ sau khi đẻ, xích bạch đới; đau lưng, thấp khớp, di tinh, khí hư, đại tiện ra máu; đái buốt, đái dắt, đái ra máu (lao lâm); mẩn ngứa, bệnh ngoài da.
Uống lâu ngày chữa người già xơ cứng mạch máu não, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con; chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, hồi hộp chóng mặt, ù tai hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón; điều kinh bổ huyết.
13. Cách dùng, liều lượng:
12-20g một ngày, dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ. Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính là đậu đen.
14. Bài thuốc:
14.1. Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, và hồi hộp chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón, dùng Hà thủ ô chế, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g sắc uống.
14.2. Chữa người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con, dùng Hà thủ ô 20g, Tầm gửi Dâu, Kỷ tử, Ngưu tất đều 16g sắc uống.
14.3. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt, Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.
14.4. Chữa đái dắt buốt, đái ra máu (Bệnh lao lâm), dùng lá Hà thủ ô, lá Huyết dụ bằng nhau sắc rồi hoà thêm mật vào uống.
14.5. Điều kinh bổ huyết: Hà thủ ô (rễ, lá) 1 rổ lớn, Đậu đen 1/2kg. Hai thứ giã nát, đổ ngập nước, nấu nhừ, lấy vải mỏng lọc nước cốt, nấu thành cao, thêm 1/2 lít mật ong, nấu lại thành cao, để trong thố đậy kín, mỗi lần dùng 1 muỗng canh, dùng được lâu mới công hiệu.
Kiêng kỵ:Uống Hà thủ ô thì kiêng ăn hành, tỏi, cải củ. Đối với người có áp huyết thấp và đường huyết thấp thì kiêng dùng.
Ghi chú: Hà thủ ô trắng là rễ củ của cây Hà thủ ô trắng, còn gọi là Dây sữa bò (Streptocaulon juventas Merr.), họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Các lương y dùng Hà thủ ô trắng làm thuốc bổ máu, bổ can thận