Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

Cannabis-cần sa

Cần sa hay tài màgai dầugai mèolanh mèolanh mánđại mahỏa mabồ đà (danh pháp khoa họcCannabis) là một chi thực vật có hoa bao gồm ba loài: Cannabis sativa L., Cannabis indica Lam., và Cannabis ruderalis Janisch. Ba loài này là thực vật với bản địa ở Trung Á và các khu vực xung quanh. Cần sa đã được sử dụng từ lâu để lấy sợi, hay dùng như chất ma túy hay trị bệnh (xem cần sa (chất)).
  • Theo các nghiên cứu tại Đại học Complutense ở Madrid và Viện nghiên cứu Cajal (Tây Ban Nha), các hoạt chất trong cần sa (gọi chung làcannabinoid) có thể làm giảm triệu chứng viêm sưng trong bệnh lẫn Alzheimer và từ đó làm chậm sự suy thoái của hệ thần kinh [2]


























































Papaver somniferum -Anh túc

Anh túc hay còn gọi là a phiếnthẩutrẩu (người Tày gọi là cây nàng tiên), là loài thực vật có tên khoa học là Papaver somniferum L., thuộc họ Anh túc (Papaveraceae). Được xem là cây dược liệu quý. Trong y học dùng cho giảm đau tốt nhất trong các loại dược liệu cả Đông lẫn Tây y. Chiết suất của cây này làm gây nghiện nặng. Ngành y học khuyến cáo không nên dùng trong các trường hợp thông thường, phải có sự chỉ định chi tiết và giám sát trực tiếp của bác sỹ. Việc lạm dụng quá mức có thể gây nghiện. Chính phủ Việt Nam đã cấm trồng cây này, lập một đơn vị phòng chống ma túy kiểm soát; thuốc phiện và các chất được tinh chiết từ nó, và các chất gây nghiện khác như cần sa..v.v.
Thân cao 1m-1,5m. Mỗi năm một vụ, mùa gieo hạt khoảng 10-11 âm lịch nằm vào mùa đông, thời gian từ khi gieo hạt đến khi ra hoa lấy mủ khoảng 3 tháng. Thích hợp với khí hậu vùng cao, có khi lên đến 1000m. Hoa của nó khá đặc biệt cùng một thân cây nhưng lại có bông hoa với các màu khác nhau, bông màu vàng tím và bông màu tím, trắng..v.v.
Thường rạch dọc trái không trùng với điểm cũ, sau cuối người ta rạch chéo trái. Lấy mủ theo cách thủ công rạch từng quả. Trời càng lạnh càng nhiều mủ, cạo vào các buổi sáng 4-5 giờ. Thời gian cạo trong khoảng 15 ngày sau đó loại bỏ cây vì hết mủ.
Số lượng khoảng 1 sào bắc bộ (360m²) mới lấy được 3 lạng mủ được cô đen (nha phiến). Sau khi hết mủ khai thác, quả khô bóc vỏ ra hạt ở trong. Hạt này có thể ăn sống được, thường trẻ con hay ăn. Hạt dùng để lấy giống vụ sau.
Nếu cần 1 kg bạch phiến thì cần phải tinh chế 10 kg nha phiến.
Việc chế biến thuốc phiện cổ truyền thì lấy nhựa thẩu phết lên trên một tấm giấy bản rồi đem hong khô. Đó là "thuốc sống". Lấy thuốc sống bóc bỏ giấy, đem dầm vào nước sôi, lọc sạch rồi đun cho đặc lại thì thành "thuốc chín". Đây là dạng thuốc dùng hút ở Đông Dương vào đầu thế kỷ 20.[1]
















Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Cây Chè Vằng



Chè vằng là một cây nhỏ, thường thấy cây mọc thành bụi ở bờ rào hay bụi tre, hoặc bám vào các cây lớn. Thân cây cứng, chia thành từng đốt, đường kính 5-6mm, chia thành nhiều cành, thân và cành đều nhẵn,

Cây Chè Vằng. Danh pháp khoa học: Jasminum subtriplinerve Blume, thuộc họ nhài ...




Hoi-nui.jpg

15112009145110.JPG

Untitled-1.jpg

Chè_vằng.jpg

Cây Chè Vằng có tên khoa học là: JOSmimum Subtriplinerve Blume, thuộc họ nhài (Olena ceae). Là loại cây dây leo mọc hoang nhiều ở các vùng rừng núi Việt Nam, tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh… Đặc biệt là ở vùng La Vang Quảng Trị do thiên nhiên ưu đãi ban tặng vùng dược liệu quý hiếm Chè Vằng đặc thù mà duy nhất nơi đây có được. 

Đây là đặc sản của “Hành lang kinh tế Đông Tây” 

Chè Vằng có vị đắng, tính mát. Theo kinh nghiệm dân gian dùng cây chè vằng sắc lấy nước uống với mục đích: Thanh nhiệt, mát gan, lợi mật, lợi sửa, tiêu độc, tiêu mỡ, giảm béo, kích thích tiêu hóa và đặc biệt rất tốt cho phụ nữ.


CHÈ VẰNG (Jasminum subtriplinerve Blume) Họ Nhài (Oleaceae)
Tên khác: Vằng, Chè cước nam, Cây dâm trắng, Dây cẩm văn.
Mô tả: Cây bụi leo. Thân cứng, chia làm nhiều đốt, thân và cành đều nhẵn. Lá mọc đối, hình mũi mác, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu lá nhọn, mép nguyên, có 3 gân rõ rệt. Hoa mọc thành xim, cánh màu trắng. Quả hình cầu, khi chín có màu vàng, có một hạt.
Mùa hoa quả: Tháng 7-10.
Phân bố: cây mọc hoang ở khắp nơi.
Đặc điểm sinh học:
- Ưa sáng, thích ẩm, chịu bóng nhẹ.
- Dây leo cuốn vươn cao, sống nhiều năm.
- Mọc thành bụi trườn xen lẫn với nhiều cây bụi khác ở ven rừng, đồi núi.
Bộ phận dùng: Lá, rễ.
Công dụng: Làm thuốc chữa nhiều bệnh, nấu nước uống sau khi sinh, chữa sung vú, rắn cắn. Có nơi còn nấu nước tắm cho trẻ con bị ghẻ lở.














cây trà dây

Hiện nay trà dây được nhiều người biết đến như vị thuốc chữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng hiệu quả mà không mấy tốn kém (Đề tài khoa học cấp Bộ của GSTS Phạm Thanh Kỳ, Trường ĐH Y Dược Hà Nội).
    Có tên khoa học Ampelopsis Cantoniensis Planch họ Nho (Vitacae), chè dây còn được gọi là Thau rả (theo dân tộc Tày) hay Khau rả (theo dân tộc Nùng). Là loại dây leo có vị ngọt, đắng, tính mát, được đồng bào dân tộc miền núi sử dụng như một vị thuốc dân gian chữa các bệnh liên quan tới dạ dày như ợ hơi, ợ chua, đau rát thượng vị... Ngoài ra chè dây còn có tác dụng an thần, chữa mất ngủ. Cách đây gần hai chục năm, chè dây đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát hiện ra những tác dụng tích cực trong việc điều trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng. Ngoài tác dụng trị viêm loét dạ dày - hành tá tràng, che dây làm sạch Helicobarter Pylori, đây là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhày niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh này. Bên cạnh đó, chè dây có tác dụng chống viêm. Mức độ viêm dạ dày của bệnh nhân trước và sau điều trị bằng chè dây giảm xuống rõ rệt, đa số hết viêm hoặc chỉ còn viêm dạ dày mức độ nhẹ. Tác dụng giảm viêm dạ dày của chè dây không có ở một số các loại tân dược khác.
    Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ rõ: sử dụng chè dây trong điều trị viêm loét dạ dày - hành tá tràng cũng không gây tác dụng phụ, không gây ngộ độc cấp tính, đặc biệt không gây ảnh hưởng tới sự sinh sản và di truyền cũng như các chỉ tiêu hóa sinh và huyết học khi dùng chè trong thời gian dài.chè dây có khả năng trị liệu các bệnh như cốt tuỷ viêm, viêm hạch cấp tính, viêm tuyến vú cấp tính, nhiễm khuẩn ngoại khoa, viêm họng và Amiđan cấp tính, viêm mủ tai giữa, viêm khí phế quản cấp tính, viêm thận cấp tính, thấp khớp giai đoạn tiến triển, viêm cơ, viêm răng lợi, mụn nhọt, đinh độc, eczema, nhiễm trùng vết thương. .
    Hiện nay chè (trà) dây được bảo tồn là vị thuốc quý. Công ty Traphaco đã sản xuất chè dây SaPa ở dạng thuốc viên có tên Ampelop.

Bán trà dây tại Cần Thơ, giao hàng tận nơi 


Trà dây thảo mộc thiên nhiên tốt cho người bị chứng đau dạ dày

1. Giới Thiệu về chè dây Lava:

- Thành phần: Trà dây 100%
Trà dây (hay chè dây) tên gọi: thau rả (tiếng Nùng), khau rả (tiếng Tày), hồng huyết long, điền bổ trà, ngưu khiên ty..., có tên khoa học là Ampelopsis cantoniensis (Hook.et arn.) Planch, thuộc họ nho (Vintaceace).


Cây chè dây tự nhiên


Trà dây là một loại cây leo, mọc hoang ở trong rừng. Dân gian thường hái toàn thân cả lá vào lúc cây chưa có hoa quả, đem rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao qua rồi hãm với nước sôi như pha trà uống thay nước hàng ngày.

Trà Dây túi lọc của LAVA giúp sử dụng tiện lợi, bảo quản dược tính và hương vị lâu hơn.


2. Tác dụng của Trà dây:


  •     Chữa đau dạ dày viêm loét dạ dày, hành tá tràng.
  •     Thanh nhiệt, mát gan, giải độc trong cơ thể
  •     Ngoài ra trà dây còn có tác dụng an thần, dễ ngủ, làm nước giải khát
  •     Tiêu viêm, diệt khuẩn, kích thích tiêu hóa

Trà dây - trị đau dạ dày hiệu quả

- Trong những tác dụng trên, Trà dây đặc biệt hiệu quả đối với trường hợp người bị mắc các chứng bệnh về dạ dày: loét dạ dày – hành tá tràng.

- Cơ chế tác dụng là làm sạch Helicobarter Pylori ( khuẩn HP), đây là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhày niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh này. Bên cạnh đó, do hàm lượng lớn flavonoid trong chè dây có tác dụng chống viêm nên trà dây còn có tác dụng giảm viêm niêm mạc dạ dày. Mức độ viêm dạ dày của bệnh nhân trước và sau điều trị bằng chè dây giảm xuống rõ rệt, đa số hết viêm hoặc chỉ còn viêm dạ dày mức độ nhẹ. Tác dụng giảm viêm dạ dày của trà dây không có ở một số các loại tân dược khác.

3. Hướng dẫn sử dụng và bảo quản chè dây Lava


- Hướng dẫn sử dụng: Ngâm 3 túi lọc vào bình nước (1.5 lít) đã được đun sôi, chờ từ 7 đến 10 phút. Sử dụng làm nước uống hằng ngày.

- Dùng tốt cho mọi đối tượng

  •   Bảo quản: Nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.
  •   Thời hạn bảo quản: 12 tháng.
  •   Khối lượng tịnh: 30 túi * 5 gram
  •   Giá: 38.000 đồng/hộp

4. Chứng nhận và đánh giá của chuyên gia về tác dụng của Chè dây:


- Như sự hiểu biết của chúng ta, Vi khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân sinh viêm loét dạ dày – tá tràng và bệnh ung thư dạ dày. Bởi vậy để điều trị bệnh dạ dày thường phải tiệt trừ vi trùng. Có nhiều phương thuốc để diệt trừ như sử dụng kháng sinh nhưng điều này gặp nhiều tác hại ngoài mong muốn như vi khuẩn kháng thuốc gặp khó khăn trong điều trị.

Kết quả nghiên cứu của Viện dược liệu ( Bộ y tế) về Chè Dây


Chè Dây có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn, giảm độ axit tại dạ dày, giúp cho bệnh loét dạ dày dễ liền sẹo; cắt cơn đau do viêm loét hành tá tràng đạt 93,4%, cao hơn so với Alusi (loại thuốc chuyên trị bệnh viêm loét hành tá tràng hiện nay) là 89%, thời gian cắt cơn đau trung bình của chè Dây từ 8 đến 9 ngày, và Alusi là 17 ngày;

Chè Dây cho kết quả khỏi bệnh hoàn toàn đối với bệnh nhân viêm loét dạ dày hành tá tràng là 43,18%, với Alusi là 9,44%, khỏi bệnh ở mức độ liền sẹo là của chè Dây là 36,36% ,với Alusi 30,56%. Sử dụng chè Dây bạn hoàn toàn yên tâm đó là loại chè sạch, không gây độc và không có tác dụng phụ."

Theo nghiên cứu của tiến sĩ Vũ Nam, trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh,  Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam


- Bệnh nhân đau thượng vị điều trị  bằng chè dây có thời gian cắt cơn đau nhanh. Trung bình, chỉ sau 8-9  ngày, hơn 90% bệnh nhân hết đau, thèm ăn và có cảm giác ngon miệng,  người dễ chịu, ngủ ngon hơn. Các bệnh nhân nghiên cứu được nội soi trước  và sau điều trị, kết quả sau khi dùng chè dây cho thấy, có tới gần 80%  bệnh nhân liền sẹo. Như vậy, chè dây có tác dụng làm liền sẹo ổ loét dạ  dày rất cao.

- Cũng theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Vũ Nam, một tác dụng nữa của  chè dây với bệnh nhân viêm loét dạ dày - hành tá tràng là làm sạch  Helicobarter Pylori, đây là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhày niêm mạc  dạ dày và gây ra bệnh này. Bên cạnh đó, do hàm lượng lớn flavonoid  trong chè dây có tác dụng chống viêm nên chè dây còn có tác dụng giảm  viêm niêm mạc dạ dày. Mức độ viêm dạ dày của bệnh nhân trước và sau điều  trị bằng chè dây giảm xuống rõ rệt, đa số hết viêm hoặc chỉ còn viêm dạ  dày mức độ nhẹ. Tác dụng giảm viêm dạ dày của chè dây không có ở một số  các loại tân dược khác.

- Những kết quả tuyệt vời trong điều trị đau dạ dày của Chè Dây như trên được kiểm nghiệm bằng phương pháp phân tích thành phần có trong Chè Dây. Chè Dây là một loại dược liệu giàu chất flavonoid và tannin, chứa hai loại đường glucase và rhamnese. Chất flavonoid trong chè dây có tác dụng chống viêm, làm giảm viêm niêm mạc dạ dày. Chè dây còn làm sạch xoắn khuẩn Helicobarter Pylori (HP) sống trong niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh viêm loét dạ dày, hành tá tràng…Kết quả thu được là hiệu quả khi sử dụng Chè Dây đối với người bị bệnh dạ dày là hơn 90% bệnh nhân đau dạ dày hết đau, thèm ăn, có cảm giác ngon miệng và người dễ chịu, ngủ ngon hơn.
+ Chọn chè dây Lava để có một dạ dày khỏe

- Lựa chọn phương pháp điều trị bằng Trà Dây LAVA là lựa chọn an toàn và hiệu quả với 100% nguyên liệu Trà Dây được trồng tại SAPA. Trà Dây LAVA rất hiệu quả trong việc điều trị viêm, loét dạ dày, tá tràng, hạn chế tái phát và không gây tác dụng phụ, an toàn khi sử dụng dài ngày.




















Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Những cánh sao Mướp Rắn trắng ngần bình dị

Mướp Rắn còn gọi là mướp hổ, mướp Ấn Độ (tên khoa học: Trichosanthes anguina L). Mướp Rắn có xuất xứ từ Ấn Độ, được nhập vào Việt Nam và khá thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng nước ta. Mướp rắn thuộc họ bầu bí, ưa leo giàn ra nhiều quả, quả dài và có hình dáng như con rắn, trông khá lạ mắt. Hiện nay, Mướp Rắn được trồng ở nhiều nơi, kể cả ở các hộ dân trong thành phố. Mướp rắn thường được dùng để nấu canh (với tôm, tép), xào với lòng gà vịt, xào chung với các loại rau khác hoặc ăn sống rất ngon…
Loài Mướp có trái rất dài uốn ngoằn ngoèo, thường màu hơi trắng có sọc. Hoa nhìn giống đầu mấy cô gái uốn tóc quăn.