Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

Trạch quạch, Hải hồng đậu - Adenanthera Pavonina L., var. pavonina










Trạch quạch
Trạch quạch, Hải hồng đậu - Adenanthera Pavonina L., var. pavonina, thuộc họ Ðậu - Fabaceae.
Mô tả: Cây gỗ cao tới 20m. Lá kép hai lần; cuống chung to, dài tới 40cm hay hơn, với 2-6 cặp cuống lá bậc nhất, mang 6 đôi lá chét với lá tận cùng, không đều nhau, màu nhạt và có lông nằm ở dưới. Hoa vàng họp thành bông, xếp thành chùm ở nách lá, dài 15-25cm. Quả dạng cầu, dài 15-20cm, hạt tròn, đỏ, bóng loáng, có rốn đen đường kính 7mm.
Hoa tháng 6-7, quả tháng 8-9.
Bộ phận dùng: Hạt - Semen Adenantherae Pavoninae: Rễ và lá cũng được dùng.
Nơi sống và thu hái: Loài được trồng ở các xứ nhiệt đới và mọc hoang ở Ấn Độ tới Xri Lanca và Mianma. Ở nước ta, cây được trồng và phát tán tới độ cao 900m, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Người ta thu hái quả chín, tách lấy hạt, phơi khô.
Thành phần hoá học: Hạt chứa 28% dầu, HCN - glucosid, acid lignoceric. Lá chứa alcaloid.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Ấn Độ và Malaixia, nước sắc lá dùng trị thấp khớp mạn tính, thống phong, đái ra máu. Gỗ được dùng sắc uống làm tăng lực. Hạt dùng chữa nhọt, viêm.
Ở Java, nhân hạt được dùng ăn. Hạt nghiền ra, được dùng đắp làm mưng mủ mụn nhọt, chống đau nửa đầu, thấp khớp.
Ở Thái Lan, cũng được dùng trị vết thương nhiễm trùng và áp xe.



Ràng ràng, Muồng nước, Cây chi chi - Adenanthera pavonina L. var. microsperna (Teijsm et Binn) I. Nielsen,







Ràng ràng
Ràng ràng, Muồng nước, Cây chi chi - Adenanthera pavonina L. var. microsperna (Teijsm et Binn) I. Nielsen, thuộc họ Ðậu - Fabaceae.
Mô tả: Cây gỗ hay cây nhỡ cao 2-4m, nhánh non có cuống đỏ. Lá dài 15-20cm, các cuống bậc nhất mang 17-19 lá chét tròn dài. Bông hoa dài 7-10cm có lông; hoa hồng, thơm cao 3-4mm. Quả xoắn thành vòng tròn, rộng 1cm, hạt tròn hay hơi bầu dục, đỏ, đường kính 7,5cm. Thứ này rất giống với Trạch quạch. Khác ở chỗ có lá chét to hơn, hoa nhỏ hơn, quả xoắn trước khi mở, hạt nhỏ hơn, lớp trong của vỏ màu đỏ nâu.
Hoa tháng 9-12.
Bộ phận dùng: Hạt, rễ, lá và vỏ - SemenRadix, Folium et Cortex Adenantherae Pavoninae.
Nơi sống và thu hái: Loài của Mianma, Nam Trung Quốc, của Campuchia, Lào, Việt Nam và bán đảo Malaixia. Thường gặp trong rừng thường xanh, trong rừng hỗn giao rụng lá, ở bìa rừng và trong những chỗ trống tới độ cao 400m khắp nước ta từ Bắc Thái đến Côn Ðảo.
Thành phần hoá học: Có tanin.
Tính vị, tác dụng: Vị chát, nhạt, hơi hàn, có ít độc, có tác dụng làm nôn, tả hạ, thu liễm, cầm máu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Campuchia, người ta dùng vỏ tươi hay khô hãm uống trị lỵ có tác dụng hơn cả Chiêu liêu gân đen (Preasphneou).
Ở Trung Quốc, người ta dùng hạt, rễ, lá trị ngoại thương xuất huyết, đầu mật du phong. 



Cơm nguội vàng hay còn gọi là cây sếu, phác, cơm nguội Trung Quốc - Celtis sinensis Pers.

Cơm nguội vàng hay còn gọi là cây sếupháccơm nguội Trung Quốc (tên khoa học: Celtis sinensis Pers., tiếng Trung: 朴树) là một loài thực vật thuộc chi Cơm nguộihọ Gai dầu (Cannabaceae).
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
Bộ (ordo)Rosales
Họ (familia)Cannabaceae
Chi (genus)Celtis
Loài (species)C. sinensis
Danh pháp hai phần
Celtis sinensis
Pers.
Các danh pháp đồng nghĩa có: Celtis bodinieri H. LéveilléC. bungeana var. pubipedicella G. H. WangC. cercidifolia C. K. SchneiderC. hunanensis Handel-MazzettiC. labilis C. K. SchneiderC. nervosa HemsleyC. tetrandra Roxburgh subsp. sinensis (Persoon) Y. C. Tang.



















Trọng đũa hay cơm nguội răng - Ardisia crenata

Trọng đũa hay cơm nguội răng (danh pháp hai phầnArdisia crenata) là một loài thực vật có hoa thuộc phân họ Xay (Myrsinoideae) của họ Anh thảo (Primulaceae), bản địa của khu vực Đông Á.
Trọng đũa là cây bụi, thường là thân đơn, cao đến 1 m. Lá cây màu xanh sẫm, dày, nhẵn. Hoa nhỏ màu trắng hoặc đỏ nhạt, thơm và tạo thành cụm. Quả hạch, màu đỏ tươi, vỏ nhẵn. Hạt có thể nảy mầm dưới tán cây rậm rạp và được phát tán nhờ chim và con người[2].
Đây loài cây xâm thực, được đưa vào Hoa Kỳ trong thế kỷ XX để làm cây cảnh. Nó đã xâm nhập vào tự nhiên từ năm 1982[3].
Tại Việt Nam, cây trọng đũa phân bố từ Nam Định đến Tây Ninh và Đồng Nai[4].
Lá, ngọn non và quả cây trọng đũa có thể ăn được. Các bộ phận của cây đều có thể dùng làm thuốc.
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Asterids
Bộ (ordo)Ericales
Họ (familia)Primulaceae
Phân họ (subfamilia)Myrsinoideae
Chi (genus)Ardisia
Loài (species)A. crenata
Danh pháp hai phần
Ardisia crenata
Sims[1]













Cơm nguội Miền Nam(Cơm nguội nhỏ) - Ardisia humilis Vahl

Ardisia humilis là một loài thực vật có hoa trong họ Anh thảo. Loài này được Vahl mô tả khoa học đầu tiên năm 1794.
Ardisia humilis
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Asterids
Bộ (ordo)Ericales
Họ (familia)Primulaceae
Chi (genus)Ardisia
Loài (species)A. humilis
Danh pháp hai phần
Ardisia humilis
Vahl
Danh pháp đồng nghĩa
Cơm nguội nhỏ
Cơm nguội nhỏ, Lục chột, Cây dang dang - Ardisia humilis Vahl, thuộc họ Đơn nem - Myrsinaceae.
Mô tả: Cây bụi cao tới 3m, không lông, vỏ nhám, màu xám nâu; nhánh non màu nâu đỏ. Lá đơn, mọc so le; phiến nguyên hình xoan ngược dài đến 15cm, gốc thon nhọn, dày; gân phụ nhiều; cuống dài 0,5-1cm. Hoa tạo thành chùm thưa ở nách lá; 5 lá đài nhỏ có tuyến, mép có rìa lông; 5 cánh hoa hình tam giác, dài 1cm; 5 nhị có bao phấn to màu vàng; nhuỵ có bầu 1 ô; 1 vòi. Quả mập tròn 5-6cm, màu đỏ lúc non, đen khi chín; 1 hạt có phôi nhũ nhiều.
Ra hoa tháng 7-8, có quả tháng 10-12.
Bộ phận dùng: Lá, hạt, rễ - Folium, Semen et Radix Ardisiae Humilis.
Nơi sống và thu hái: Loài của Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam. Cây mọc dựa rạch nơi ẩm, đất nhiều mùn, cây chịu rợp. Người ta thu hái lá non để ăn và lấy hạt và rễ làm thuốc.
Tính vị, tác dụng: Rễ có tính hạ nhiệt.
Công dụng, chỉ định và phối hợp Lá non có thể dùng làm rau ăn sống; quả chín ăn được. Ở Minh hải, nhân dân dùng hạt làm thuộc trị bệnh đái đường. Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ loài Ardisia solanacea Roxb. (Xem như tên đồng nghĩa của loài Cơm nguội thấp) làm thuốc trị lỵ và thấp khớp.






Côi (danh pháp khoa học:Scyphiphora hydrophylacea)[2] là một loài thực vật có hoa trong họ Thiến thảo. Loài này được C.F.Gaertn. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1806.
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
Bộ (ordo)Gentianales
Họ (familia)Rubiaceae
Chi (genus)Scyphiphora
Loài (species)S. hydrophylacea
Danh pháp hai phần
Scyphiphora hydrophylacea
C.F.Gaertn., 1806






Ngũ gia bì chân chim - Schefflera heptaphylla

Ngũ gia bì chân chim (tên khoa học Schefflera heptaphylla), còn gọi là Chân chim bảy láChân chim hoa trắngCây đáng,Cây lằngSâm NamCây chân vịt,... là một loài thực vật có hoa trong họ Cam tùng (Araliaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương tại Việt Nam. Loài này được (L.) Frodin mô tả khoa học đầu tiên năm 1990 publ. 1991.Loài này có dạng thân gỗ, có kích thước nhỏ đến trung bình, cao tới hơn 10m đến 15m[2]. Lá kép chân vịt, gồm 6- 8 lá chét, mọc so le, cuống có bẹ dài 8–35 cm. Cụm hoa chùm tụ tán, mọc ở kẽ lá hay đầu cành; hoa nhỏ, màu trắng. Quả mọng, hình cầu, khi chín màu tím đen, đường kính 3-4mm. Hoa nở từ mùa thu thu đến đầu đông, sau đó là kết trái. Đây là loài bán rụng lá hoặc thường xanh.Loài này phân bố rộng rãi ở Việt Nam, miền nam Trung Quốc (Phúc KiếnQuảng ĐôngQuảng TâyQuý ChâuHồ NamGiang TâyTây TạngVân NamChiết Giang), Đài Loan, và Hồng Kông,[5] Thái Lan[6] Ấn ĐộMalaysiaNhật Bản (kyushuquần đảo Ryukyu). Chúng phân bố ở độ cao lên đến 1200m, có thể lên đến 1400m, ở quần đảo Ryukyu chúng phân bố lên đến độ cao 600m.Loài này có tác dụng kháng virus, chữa cảm lạnh thông thường[7] đau lưng, nhức xương, tê bại tay chân, phù thũng. Bộ phận dùng là vỏ thân, lá. Ngày dùng 10-20g, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu.
Ở Việt Nam có loài Ngũ gia bì hương, Ngũ gia bì gai (Acanthopanax aculeatus Seem), họ Nhân sâm (Araliaceae). Vỏ thân, vỏ rễ có saponin, chất thơm (4- methoxy salicylaldehyd), dùng với công dụng như Ngũ gia bì chân chim.
Một số vùng ở Nghệ An dùng lá Ngũ gia bì chân chim với tên lá Lằng để chữa nhiều bệnh khác nhau.

Danh pháp hai phần
Schefflera heptaphylla
(L.) Frodin, 1990 publ. 1991
Danh pháp đồng nghĩa[1]
Sciodaphyllum heptaphyllum (L.C.L.Hitchc.
Schefflera rubriflora C.J.Tseng & G.Hoo
Schefflera octophylla (Lour.Harms
Schefflera choganhensis Harms
Paratropia cantoniensis Hook. & Arn.
Heptapleurum octophyllum (Lour.Kuntze
Aralia octophylla cantonensis
Aralia octophylla Lour.
Aralia octonata Stokes
Aralia heptaphylla (L.Willd. ex Spreng.
Agalma octophyllum (Lour.Seem.
Agalma lutchuense Nakai





Combretum micranthum

Combretum micranthum là một loài thực vật có hoa trong họ Trâm bầu. Loài này được G.Don mô tả khoa học đầu tiên năm 1824
Combretum micranthum
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
Bộ (ordo)Myrtales
Họ (familia)Combretaceae
Chi (genus)Combretum
Loài (species)C. micranthum
Danh pháp hai phần
Combretum micranthum
G.Don, 1824








Trâm bầu còn có tên khác là chưng bầu, tim bầu, săng kê, song re- Combretum quadrangulare Kurz

Trâm bầu còn có tên khác là chưng bầutim bầusăng kêsong re. (danh pháp hai phầnCombretum quadrangulare Kurz). Tại Việt Nam, cây mọc hoang ở khắp các tỉnh phía nam, nhất là vùng đồng bằng.
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Myrtales
Họ (familia)Combretaceae
Chi (genus)Combretum
Loài (species)C. quadrangulare
Danh pháp hai phần
Combretum quadrangulare
Kurz

Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 2-10m. Thân có nhiều cành ngắn rụng lá nom như gai. Cành non hình 4 cạnh, mép có dìa mỏng. Lá mọc đối, cuống ngắn. Hai mặt lá có lông, dày hơn ở mặt dưới. Hoa nhỏ màu vàng ngà, mọc thành bông ở kẽ lá và đầu cành. Quả có 4 cánh mỏng, chứa một hạt hình thoi.


















Chà là biển, Cây cứt chuột - Phoenix paludosa

Chà là biển, Cây cứt chuột - Phoenix paludosa, Chi Phoenix, họ Cau - Arecaceae, 16- bộ Arecales Bộ Cau (nhánh 4)
Mô tả: Thân cao 4 hay 5m, có thể tới 10m, đâm nhiều tược, phủ bởi những bẹ dạng lá. Lá dài khoảng 2m (tới 3m) các phiến lông chim chẻ hai, trải ra và rất nhọn, lá chét ở gốc dài và hẹp hơn. Cụm hoa là buồng có một mo, mang nhánh cái dài hơn nhánh đực, hoa đực có 6 nhị; hoa cái có 3 lá noãn hơi dính nhau ở gốc. Quả mập hình trứng cao 1cm, có mũi nhọn cứng, màu nâu đỏ, và gần như đen khi chín, chứa 1 hạt có nội nhũ ở gốc.
Cây ra hoa vào tháng 3-4, có quả chín tháng 6-8.
Nơi mọc: Cây của vùng biển nhiều nước châu Á, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam. Ở nước ta, nó là loài cây ngập mặn có thể cho chồi gốc mạnh, thường gặp ở những doi đất bồi cao chỉ ngập nước triều vài mươi lần trong năm.

Công dụng: Quả chín có nhiều bột ăn được. Ở đọt ngọn cây, vào khoảng tháng 10-12, có con đuông (Đuông chà là) ấu trùng của loại côn trùng Oryctes nasicornis đem nướng ăn rất thơm ngon (mỗi đọt chỉ có 1 con). Với đặc tính không bị hà và nắng mưa làm hư mục nên thân cây được dùng làm đòn tay, sàn cầu.







Nhựa ruồi, Bùi ba vỏ, Bùi tụ tán, Bùi núi- Ilex cymosa Blume

Vietnamese named :Nhựa ruồi, Bùi ba vỏ, Bùi tụ tán, Bùi núi.
Common names :
Scientist name : Ilex cymosa Blume
Synonyms : Ilex cumingiana Rolfe, Ilex cymosa var. cumingiana (Rolfe) Loes., Ilex philippinensis Rolfe , Prinos cymosa (Bl.) Hassk.
Family : Aquifoliaceae . Họ Nhựa ruồi, Bùi.
cây Nhựa ruồi được dùng làm củi đốt, rể được dùng để phòng bệnh sốt, trong khi đó thì lá dùng để chữa bong gân ( sprains ).