Chuyển đến nội dung chính

Họ Rong đuôi chó- Ceratophyllaceae

Họ Rong đuôi chó (danh pháp khoa họcCeratophyllaceae) là một họ thực vật có hoa chỉ chứa một chi duy nhất làCeratophyllum. Chi này phân bổ rộng khắp thế giới, nói chung hay được tìm thấy trong các loại ao, hồ, đầm lầy cũng như các dòng suối chảy chậm tại khu vực nhiệt đới và ôn đới và hay được thả trong các bể cá cảnh.
Các loài trong chi Ceratophyllum mọc hoàn toàn dưới mặt nước, thông thường (mặc dù không phải luôn luôn) trôi nổi trong môi trường sống của chúng. Thân cây có thể dài tới 1 m trong nhiều bể cá cảnh. Chúng không chịu được sự khô hạn. Tại các khoảng dọc theo các đốt của thân cây chúng sinh ra các vòng lá màu xanh lục sáng, thường là hẹp bản và tạo nhánh. Các lá phân nhánh này khá giòn và cứng. Chúng không có rễ, nhưng đôi khi phát triển các lá bị biến đổi có bề ngoài tựa như rễ, với mục đích neo đậu cả cây xuống đáy nước. Hoa nhỏ và không hấp dẫn, với hoa đực và hoa cái trên cùng một cây. Chúng sinh sống tốt trong môi trường nhiều ánh sáng. Mặc dù có thể sống được trong môi trường ít ánh sáng nhưng tốc độ phát triển rất chậm. Ở nhiệt độ thấp chúng cũng phát triển chậm và tạo ra các lá dày hơn, tạo ra bề ngoài giống như một loài khác. Trong ao hồ nó tạo thành các chồi dày vào mùa thu và chìm xuống đáy tạo ra cảm giác như thể nó bị sương giá làm chết nhưng khi mùa xuân đến thì các chồi này sẽ phát triển trở lại dạng thân dài và dần dần phủ kín ao hồ[1][2][3][4].
Việc nhân giống chúng khá dễ dàng. Chỉ với một mẩu nhỏ thân cây thì cuối cùng nó cũng sẽ phát triển thành một cây mới. Nó tiết ra các chất có độc tính đối với các loài tảo (hành vi cảm nhiễm) và trong điều kiện thích hợp với nó thì gần như nó ngăn cản một cách có hiệu quả sự phát triển của các loại tảo.
Do bề ngoài của chúng cũng như khả năng tạo ra nhiều ôxy, nên người ta hay sử dụng chúng trong các bể nuôi cá cảnh.
Các loài trong chi Ceratophyllum được coi là đủ đặc biệt để có thể xếp nó vào một họ riêng của chính nó là họ Ceratophyllaceae, mặc dù quan hệ chính xác của nó với các loài, chi, họ thực vật hạt kín khác vẫn chưa được sáng tỏ. Trong hệ thống Cronquistngười ta cho rằng nó có quan hệ họ hàng gần với họ Họ Súng (Nymphaeaceae) và đặt nó trong bộ Bộ Súng (Nymphaeales), nhưng các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nó không có quan hệ họ hàng gần với họ Nymphaeaceae hay bất kỳ họ thực vật đang tồn tại nào khác. Một số nghiên cứu phát sinh loài ban đầu cho rằng nó là nhóm chị em với các thực vật hạt kín khác, nhưng các nghiên cứu mới hơn lại cho rằng nó hoặc là nhóm chị em với thực vật một lá mầm (monocots) hoặc là với thực vật hai lá mầm thật sự (eudicots). Hệ thống APG II đặt họ này trong bộ của chính nó với danh pháp khoa học là Ceratophyllales[5].
Sự phân chia họ này thành các loài vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, nhưng người ta cho rằng có ít nhất là 5 loài chính là:
  1. Ceratophyllum demersum L. - rong đuôi chó thông thường hay rong đuôi chó cứng
  2. Ceratophyllum echinatum A.Gray - rong đuôi chó không gai
  3. Ceratophyllum muricatum Cham. -rong đuôi chó gai
  4. Ceratophyllum platyacanthum Cham.
  5. Ceratophyllum submersum L. – rong đuôi chó nhiệt đới hay rong đuôi chó mềm
mặc dù có trên 30 tên gọi loài khác cũng đã được miêu tả, nhưng phần nhiều trong số này có lẽ chỉ là các biến thái của 5 loài nói trên[1][2][6][7][8]. Trong số này, Ceratophyllum demersum là phổ biến rộng nhất, với sự phân bố toàn cầu; các loài khác chỉ sinh sống trong phạm vi hạn hẹp hơn. Tên gọi rong đuôi chồn hay cỏ khét đôi khi cũng được áp dụng cho một số loài trong họ này, chẳng hạn cho Ceratophyllum demersum[9].



















Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phân biệt : khoai nước- khoai sọ - dọc mùng - môn bạc hà - Ráy voi....

KHOAI NƯỚC Khoai nước, Môn nước - Colocasia esculenta Schott,  Chi Colocasia - Khoai nước, Khoai môn,  Họ Araceae - ráy, khoai môn, khoai nước, thiên nam tinh,  bộ Alismatales Trạch tả Mô tả:  Khoai nước và Khoai sọ cùng loài nhưng khác thứ: +   Khoai nước - Colocasia esacuenta Schott  trồng nước + Khoai sọ - Colocasia esacuenta  var.  antiquorum  trồng khô.  Cây thảo mọc hoang và được trồng, có củ ở gốc thân hình khối tròn. Lá có cuống cao đến 0,8m; phiến dạng tim, màu lục sẫm nhiều hay ít, tím hay nâu tuỳ giống trồng, gân nổi rõ. Mo vàng có phần ống xanh, đầu nhọn. Trục bông mo mang hoa đực và hoa cái, hoa cái có bầu nhiều noãn. Quả mọng vàng khi chín to 3-4mm. Nơi mọc:   Loài được trồng nhiều ở nước ta và các xứ nhiệt đới để lấy củ ăn. Công dụng:  Ta thường dùng củ nấu ăn với xôi hay nấu chè, làm bánh. Cuống lá cũng thường dùng làm rau ăn nhưng phải xát hoặc ngâm với muối để khỏi ngứa. Cũng dùng muối dưa ăn. Củ tươ...

Tổng hợp các loại đậu

Các loại quả đậu ăn cả vỏ lẫn ruột khi chưa chín Đậu rồng – Đậu khế – Đậu xương rồng – Đậu cánh – Winged bean – Winged pea – Goa bean – Asparagus pea – Four-angled bean. Đậu rồng  còn gọi là đậu khế hay đậu xương rồng, đậu cánh (danh pháp hai phần: Psophocarpus tetragonolobus) là một loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae)  Đậu que – Green bean – String bean – Snap bean. Đậu que   là một tên gọi thường dùng ở Việt Nam để chỉ các loại đậu có dạng quả có đặc điểm dài và ốm, như: Đậu đũa , tên khoa học  Vigna unguiculata sesquipedalis , một loại đậu thuộc  chi Đậu  ( Vigna ),  họ Đậu . Đậu cô ve , tên khoa học  Phaseolus vulgaris , một loại đậu thuộc  chi Đậu cô ve  ( Phaseolus ),  họ Đậu . Đậu cô ve – Đậu a ri cô ve – French beans, French green beans, French filet bean (english) – Haricots verts (french): được trồng ở Đà Lạt. Đậu que ,  đậu ve  hay  đậu cô ve , còn gọi là: đậu a ri cô ve do biến âm từ  tiếng...

Cây Gáo - gáo trắng,gáo vàng,gáo tròn

Cây gáo, còn được gọi là cây thiên ngân, và một số loài như gáo trắng, gáo vàng, gáo tròn, là cây gỗ thường xanh thuộc họ cà phê Rubiaceae. Cây gáo  là cây gỗ thường xanh hoặc nửa rụng lá, thân cao tới 35m, đường kính ngang ngực tới trên 100 cm. Thân tròn, thẳng đứng, vỏ cây khi còn non có màu nâu tro, tròn nhẵn, khi trưởng thành có màu nâu, có sọc thẳng đứng.Cành nhánh dài và phẳng, ngọn hơi rủ, tán hình dù. Thân cây con màu xanh, hình 4 cạnh, thân chính và cành có lõi xốp. Lá mọc đối, hình bầu dục, dài 20 – 25 cm, rộng 12 – 17 cm, chiều dài lá có thể tới 40 – 70cm, mặt dưới có lông mượt. Hoa mọc ở ngọn, màu vàng trắng, hoa trụ vươn dài. Quả chín màu vàng hung, quả sóc 4 ngăn. Hạt nhỏ có cạnh. Cây gáo , có các loài như : gáo trắng, gáo vàng, gáo tròn. 1. Cây Gáo trắng Cây Gáo trắng , hay Gáo tàu, Cà tôm, Cà đam, danh pháp khoa học là Neolamarckia cadamba, nhiều tài liệu sử dụng tên Anthocephalus chinensis (tên chi xuất hiện "Lamarckia" bắt nguồn từ tên của nhà tự nhiên họ...