Chuyển đến nội dung chính

Cây cơm rượu. Orangeberry (Glycosmis pentaphylla)


Cơm rượu - Glycosmis pentaphylla (Retz.) Correa, thuộc họ Cam - Rutaceae.
Mô tả: Cây nhỏ cao 4-5m, lá kép có thể dài đến 30cm, do một số lá chét thay đổi, thường là 3-7, ít khi 1; lá chét dày, không lông. Hoa trắng, trắng đục hay lục, mọc thành chuỳ ngắn hơn lá; đài cao cỡ 1mm; cánh hoa 5, dài 3,5mm; nhị 8-10; bầu không lông. Quả mọng tròn, trong trong, ửng hồng rồi tím đậm, xếp trên những cụm quả dài tới 25cm; hột 1-3 nâu bóng.
Mùa hoa quả tháng 1-5.
Bộ phận dùng: Rễ và lá - Radix et Folium Glycosmis Pentaphyllae.
Nơi sống và thu hái: Cây gặp ở lùm bụi, rừng, trên đất đồi, cạnh suối từ Hà Tây, Bắc Thái đến các tỉnh phía Nam. Còn phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin và Inđônêxia. Thu hái rễ và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.
Thành phần hoá học: Lá chứa nhiều loại alcaloid, trong đó có glycosmin, tương đồng với veratroylsalicin; glycosin arborin, glycosminin và arborinin; glyborin và các alcaloid, có hàm lượng ít hơn như glycosamin, glycorin, glycosmicin; còn có 2 base furoquinolin là kokusaginin và skimmianin. Từ lá cũng tách được 2 triterpen trung tính là arborinol A và B, arbinol và isoarbinol. Còn có 2 triterpen alcohol đồng phân cùng với (b-sitosterol, stigmatosterol và myricyl alcohol. Arbonin (0,5%) và arborinin (0,12%) là alcaloid chủ yếu của lá. Cũng gặp trong vỏ rễ và thân nhưng không có trong chồi, hoa, quả xanh và hạt.
Tính vị, tác dụng: Rễ và lá có vị đắng, tính mát; rễ có tác dụng khu phong trừ thấp; lá kích thích tiêu hoá, thanh nhiệt giải độc.
Công dụng, chỉ định và phối hợp Quả ăn được. Rễ và lá cũng được sử dụng làm men rượu để làm tăng hiệu suất. Rễ thường được dùng chữa tê thấp, chân tay nhức mỏi. Liều dùng 8-20g, sắc uống. Lá giúp ăn ngon và chữa sản hậu ứ huyết. Liều dùng 12-24g, sắc uống hoặc sao qua hãm uống. Dùng ngoài chữa mụn nhọt, chốc lở, rắn cắn; lấy lá tươi nấu nước tắm rửa hoặc giã đắp vết thương. Ở Ấn Độ, Cơm rượu cũng là cây thuốc cổ truyền chữa ho, tê thấp, thiếu máu và vàng da. Dịch lá đắng dùng trị sốt, đau gan và trừ giun. Lá Cơm rượu lẫn với gừng làm thuốc nhuyễn đắp trị eczema và các bệnh ngoài da. Rễ sắc nước xông, uống trị sưng mặt. Gỗ dùng trị rắn cắn.
















Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phân biệt : khoai nước- khoai sọ - dọc mùng - môn bạc hà - Ráy voi....

KHOAI NƯỚC Khoai nước, Môn nước - Colocasia esculenta Schott,  Chi Colocasia - Khoai nước, Khoai môn,  Họ Araceae - ráy, khoai môn, khoai nước, thiên nam tinh,  bộ Alismatales Trạch tả Mô tả:  Khoai nước và Khoai sọ cùng loài nhưng khác thứ: +   Khoai nước - Colocasia esacuenta Schott  trồng nước + Khoai sọ - Colocasia esacuenta  var.  antiquorum  trồng khô.  Cây thảo mọc hoang và được trồng, có củ ở gốc thân hình khối tròn. Lá có cuống cao đến 0,8m; phiến dạng tim, màu lục sẫm nhiều hay ít, tím hay nâu tuỳ giống trồng, gân nổi rõ. Mo vàng có phần ống xanh, đầu nhọn. Trục bông mo mang hoa đực và hoa cái, hoa cái có bầu nhiều noãn. Quả mọng vàng khi chín to 3-4mm. Nơi mọc:   Loài được trồng nhiều ở nước ta và các xứ nhiệt đới để lấy củ ăn. Công dụng:  Ta thường dùng củ nấu ăn với xôi hay nấu chè, làm bánh. Cuống lá cũng thường dùng làm rau ăn nhưng phải xát hoặc ngâm với muối để khỏi ngứa. Cũng dùng muối dưa ăn. Củ tươ...

Tổng hợp các loại đậu

Các loại quả đậu ăn cả vỏ lẫn ruột khi chưa chín Đậu rồng – Đậu khế – Đậu xương rồng – Đậu cánh – Winged bean – Winged pea – Goa bean – Asparagus pea – Four-angled bean. Đậu rồng  còn gọi là đậu khế hay đậu xương rồng, đậu cánh (danh pháp hai phần: Psophocarpus tetragonolobus) là một loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae)  Đậu que – Green bean – String bean – Snap bean. Đậu que   là một tên gọi thường dùng ở Việt Nam để chỉ các loại đậu có dạng quả có đặc điểm dài và ốm, như: Đậu đũa , tên khoa học  Vigna unguiculata sesquipedalis , một loại đậu thuộc  chi Đậu  ( Vigna ),  họ Đậu . Đậu cô ve , tên khoa học  Phaseolus vulgaris , một loại đậu thuộc  chi Đậu cô ve  ( Phaseolus ),  họ Đậu . Đậu cô ve – Đậu a ri cô ve – French beans, French green beans, French filet bean (english) – Haricots verts (french): được trồng ở Đà Lạt. Đậu que ,  đậu ve  hay  đậu cô ve , còn gọi là: đậu a ri cô ve do biến âm từ  tiếng...

Cây gạo- Bombax ceiba

Cây  gạo  ( danh pháp hai phần :  Bombax ceiba ), tương tự như các loài cây khác trong chi  Bombax , còn có tên gọi khác là  mộc miên  hay  hồng miên . Trong một số hệ thống phân loại cũ, người ta đưa nó vào  họ Gạo  ( Bombacaceae ). Cây gạo còn được gọi là mộc miên, cổ bối…. có hoa màu đỏ rực, 5 cánh, ở giữ có những râu nhị nhỏ, thân có nhiều gai bám xung quanh. Cây gạo còn là một thảo dược tốt giúp con người trị được nhiều loại bệnh hiệu quả. Là loài cây ở vùng nhiệt đới với thân cây cao và thẳng với lá rụng vào mùa đông. Các hoa đỏ với 5 cánh hoa mọc vào mùa xuân trước khi cây ra lá non. Quả nhỏ chứa các sợi tương tự như sợi  bông . Thân cây có các gai để ngăn cản sự tấn công của  động vật . Mặc dù bề ngoài thì thân cây có vẻ tốt cho mục đích khai thác gỗ, nhưng gỗ của nó quá mềm để có thể sử dụng vào những việc như vậy. Loài cây này có lẽ có nguồn gốc ở  Ấn Độ  nhưng hiện nay nó được trồng rộng rãi ở các bang c...