Chuyển đến nội dung chính

TRÁI ẤU - Trapa natans L. và Trapa bicornis


TRÁI ẤU
Thu hoạch trái ấu ở vùng Đồng Tháp Mười
Trái ấu
-Tên gọi khác: Củ ấu, ấu trụi, ấu nước, kỵ thực, năng thực (Trung Quốc).
-Tên tiếng Anh: The water caltrop, water chestnut, buffalo nut, bat nut, devil pod
-Tên khoa học: Trapa natans L. và Trapa bicornis
Phân loại khoa học

Bộ (ordo):
Họ (familia):
Chi (genus):
Loài (species)
Trapa natans L.
Trapa bicornis
Về phân loại khoa học thì cây ấu hiện nay có hai loài:
-Ấu gai (Trapa natans L.).
-Ấu sừng trâu (Trapa bicornis)
Phân bố
Tuy gọi là "củ" đây đúng ra là "quả" vì nó phát triển dưới nước đến khi già thì rụng và vùi xuống bùn nên được gọi là "củ".
Cây Củ ấu gồm vài loài thực vật thuộc chi Trapa. Chúng là cây thủy sinh, bản địa ở miền ôn đới Âu-Á và Phi Châu, thường mọc ở vùng nước đọng không quá 5 m sâu. Loài cây này được thuần hóa để trồng từ hàng ngàn năm trước ở Trung Quốc, ấn Độ và Châu Phi.
 Ở Việt Nam ghi nhận có ít nhất ba loài: ấu trụi (ấu có hai sừng tù, trồng ở Hải Phòng), ấu gai (ấu có hai sừng nhọn, trồng ở Thái Bình), và ấu sừng trâu (trồng ở Phú Thọ, trước đây mọc hoang và hiện nay được trồng ở ĐBSCL).
Mô tả
Cây sống dưới nước; thân ngắn, có lông. Có hai thứ lá: Lá nổi có phao ở cuống, hình quả trám, mép trên có răng cưa, dài 4-5cm, rộng 6-7cm, cuống dài 6-15cm, giữa có phao; lá chìm thì phiến lá giảm, phiến xẻ lông chim nhưng rất nhỏ nên trông chỉ còn có các đường gân. Hoa trắng mọc đơn độc hay ở kẽ lá; 4 lá đài, 4 cánh hoa, 4 nhị, bầu trung 2 ô, mỗi ô chứa một noãn. Quả thường gọi là “củ” có hai sừng, quả cao 35mm, rộng 5cm, sừng dài 2cm, đầu sừng hình mũi tên, sừng do các lá đài phát triển thành. Trong quả chứa một hạt ăn được.
Cây củ ấu được trồng ở các ao đầm khắp nơi trong nước ta. Trồng bằng hạt hay bằng chồi. Mùa hoa ( ở miền Bắc) vào các tháng 5-6; mùa quả vào các tháng 7-9. Quả cũng để ăn, vỏ quả và toàn cây dùng làm thuốc.Dung tươi hay phơi hoặc sấy khô.
Thành phần hóa học
Trong hạt ấu có tinh bột chừng 49%, và chừng 10,3% protit. Ngoài ra còn cóBicornin là một ellagitannin được tìm thấy trong loài Ấu sừng trâu  T. bicornis.
Công dụng
Củ ấu chủ yếu được nhân dân dùng luộc ăn hoặc chế biến thành bột trộn với mật hay đường làm bánh.
Quả sao cháy dùng chữa nhức đầu, choáng váng và cảm sốt. Ngày dùng 3-4 quả dưới dạng thuốc sắc. Vỏ quả sao cho thơm, sắc uống chữa sốt chữa mệt nhọc khi bị sốt rét, còn dùng chưã loét dạ dày, loét cổ tử cung. Toàn cây chữa trẻ con sài đầu, giải độc rượu, làm cho sáng mắt. Ngày dùng từ 10-16g dưới dạng thuốc sắc.  Dùng ngoài không kể liều lượng.
Trong sách Trung Quốc Dược Thảo (xuất bản năm 1694) có chỉ rằng nước nấu từ quả ấu có thể trị giảm sốt và giả rượu.
Ở Ấn Độ, quả ấu khô được người theo đạo Hindu luộc dùng để ăn chay và dùng trong các nghi lễ navratas.
Cây ấu đã được giới thiệu đến Bắc Mỹ vào khoảng năm 1874, và được trồng ở phía đông Hoa Kỳ , nơi mà nó đã trở thành một loài thực vật xâm lấn từ Vermont đến Virginia, hiện nay thuộc liệt vào loài cỏ dại thủy sinh độc hại ở các vùng Florida , North Carolina , và Washington.
Ở Úc , và New South Wales cây ấu gai đã được tuyên bố một loài cỏ dại độc hại.
Trong khi đó loài ấu sừng ở Châu Á gần như bị tiệt chủng do ô nhiểm nguồn nước tự nhiên.
Ẩm thực Việt Nam có một số món dùng củ ấu. Phổ thông nhất là củ ấu luộc, thường dùng làm món quà ăn chơi, nhưng cũng có khi dùng làm lương thực thay cơm vào cuối thu lúc giáp hạt ở Việt Nam. Ngoài ra là các món ba ba hầm củ ấu, giò heo hầm củ ấu, thịt heo quay nấu củ ấu cùng hành gừng. Một số loại chè cũng dùng củ ấu nấu với hạt sen, đường phèn, v.v
Lưu ý!
Trong thân, lá và quả ấu là nơi ký sinh của loài sán lá Fasciolopsis buski (Lankester, 1857). Nếu người và gia súc ăn lá và quả ấu còn sống có thể nhiểm sán lá Fasciolopsiasis qua đường ruột. Vào năm 1902 Odhner đã phát hiện sán lá ruột lớn nhất của con người (lên đến 7,5 cm chiều dài).
Tục ngữ Việt Nam có câu:
Thương nhau củ ấu cũng tròn
Ghét nhau đến quả bồ hòn cũng vuông
hoặc
Ghét nhau quả bồ hòn cũng ngọt.
Đồng dao Việt Nam cũng có nhắc đến "củ ấu có sừng".

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phân biệt : khoai nước- khoai sọ - dọc mùng - môn bạc hà - Ráy voi....

KHOAI NƯỚC Khoai nước, Môn nước - Colocasia esculenta Schott,  Chi Colocasia - Khoai nước, Khoai môn,  Họ Araceae - ráy, khoai môn, khoai nước, thiên nam tinh,  bộ Alismatales Trạch tả Mô tả:  Khoai nước và Khoai sọ cùng loài nhưng khác thứ: +   Khoai nước - Colocasia esacuenta Schott  trồng nước + Khoai sọ - Colocasia esacuenta  var.  antiquorum  trồng khô.  Cây thảo mọc hoang và được trồng, có củ ở gốc thân hình khối tròn. Lá có cuống cao đến 0,8m; phiến dạng tim, màu lục sẫm nhiều hay ít, tím hay nâu tuỳ giống trồng, gân nổi rõ. Mo vàng có phần ống xanh, đầu nhọn. Trục bông mo mang hoa đực và hoa cái, hoa cái có bầu nhiều noãn. Quả mọng vàng khi chín to 3-4mm. Nơi mọc:   Loài được trồng nhiều ở nước ta và các xứ nhiệt đới để lấy củ ăn. Công dụng:  Ta thường dùng củ nấu ăn với xôi hay nấu chè, làm bánh. Cuống lá cũng thường dùng làm rau ăn nhưng phải xát hoặc ngâm với muối để khỏi ngứa. Cũng dùng muối dưa ăn. Củ tươ...

Tổng hợp các loại đậu

Các loại quả đậu ăn cả vỏ lẫn ruột khi chưa chín Đậu rồng – Đậu khế – Đậu xương rồng – Đậu cánh – Winged bean – Winged pea – Goa bean – Asparagus pea – Four-angled bean. Đậu rồng  còn gọi là đậu khế hay đậu xương rồng, đậu cánh (danh pháp hai phần: Psophocarpus tetragonolobus) là một loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae)  Đậu que – Green bean – String bean – Snap bean. Đậu que   là một tên gọi thường dùng ở Việt Nam để chỉ các loại đậu có dạng quả có đặc điểm dài và ốm, như: Đậu đũa , tên khoa học  Vigna unguiculata sesquipedalis , một loại đậu thuộc  chi Đậu  ( Vigna ),  họ Đậu . Đậu cô ve , tên khoa học  Phaseolus vulgaris , một loại đậu thuộc  chi Đậu cô ve  ( Phaseolus ),  họ Đậu . Đậu cô ve – Đậu a ri cô ve – French beans, French green beans, French filet bean (english) – Haricots verts (french): được trồng ở Đà Lạt. Đậu que ,  đậu ve  hay  đậu cô ve , còn gọi là: đậu a ri cô ve do biến âm từ  tiếng...

DANH SÁCH 20 LOÀI CÁ CÓ ĐỘC TỐ MẠNH NHẤT

 Ăn cá và ngộ độc thực phẩm rất thường xảy ra ở nước ta. Một số người ăn cá nóc và chết. Một số ăn cá ngừ và bị ngộ độc thực phẩm tập thể phải nhập viện. Một vài người bị cá độc chích. Một số người dị ứng với một vài con cá. Tất nhiên, ngộ độc thực phẩm có nhiều nguyên nhân, từ chính con cá, đến cả quá trình bảo quản, chế biến của những người buôn bán cá và cả những người nấu nướng. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, những gì các bạn không chắc chắn thì nên tránh xa. Chúng tôi xin lược dịch về 20 loài cá có độc tố mạnh nhất từ chính bản thân con cá. Có những con cá rất đẹp như cá sư tử, có những con xấu xí, nhưng cả 20 con trong danh sách này đều có điểm chung là có chất độc.    Không phải mọi loài cá đều có thể ăn được. Có những loài cá không thích hợp để ăn. Có nhiều cá có độc hơn cả rắn độc. Có ít nhất 1.200 loài cá độc trên thế giới, như...