Chuyển đến nội dung chính

Running Iris- hoa Diên vỹ


Iris là tên chung chỉ các loài cây có lá hình lưỡi kiếm và hoa lớn màu sáng, tiêu biểu ở nước ta đó là câu đuôi diều, cây diên vĩ, cây lưỡng đồng v.v...
 
Nguồn gốc cái tên
 
Trong thần thoại Hy Lạp, Iris là sứ giả của các vị thần. Nàng luôn luôn được miêu tả với đôi cánh ánh cầu vồng. Từ sự liên tưởng ấy cây Iris đã có được cái tên của mình. Không còn nghi ngờ gì nữa, những bông hoa Iris thực sự là những cánh cầu vồng trong các khu vườn.
 
 
Chúng được sắp xếp từ màu tía thẫm, màu nâu và màu đồng thiếc cho tới sắc hồng và xanh da trời phơn phớt, với phần cánh giữa luôn là màu vàng. Chỉ cần ngắm nhìn thôi cũng đủ khiến bạn tràn đầy sức sống, sự mới mẻ và ngập tràn niềm vui.
 
Một loài cây đã được sử dụng lâu đời
 
Mặc dù vậy, vẫn có một số loại của Iris có các đặc tính thảo mộc được chào đón trong vườn cây thảo. Những tán lá “ như muốn đánh nhau” của cây cùng với sắc vàng, xanh đậm hay màu trắng tinh tế, màu xanh lung linh mờ ảo của hoa sẽ mang điểm nhấn đầy nghệ thuật thêm vào cho khu vườn.
 
 
Đây là loại cây đã phát triển và được sử dụng trong một thời gian dài. Chúng là một phần lịch sử của người da đỏ ở Bắc Mỹ. Những ghi chép từ thời Trung đại về tính hữu ích của Iris đã được những người trồng và bán dược thảo Châu Âu viết lại. Nhiều những tài liệu khác nữa cho thấy công dụng của Iris đã có mặt ở Ai Cập cổ đại từ 1540 TCN.
 
 
Hương thơm từ những bông hoa cũng giúp thúc đẩy quá trình chữa trị vết thương trong xoa bóp trị liệu. Chắc chắn rằng, việc tận hưởng khi ngắm những bông hoa tuyệt đẹp cũng có hiệu quả chữa bệnh cho cơ thể của chúng ta.
 
 
Cũng có thể sử dụng những bộ rễ từ một số loài cho đến việc dùng rễ cây Iris thơm để chế tạo nước hoa và những túi thơm (hỗn hợp những cánh hoa khô và hương liệu) được dùng để lưu giữ hương thơm trong tủ quần áo và ngôi nhà của bạn.
 
 
Từ thế kỉ 15, rễ cây Iris thơm đã là một trong những thành phần quan trọng nhất của bất kỳ nghành kinh doanh hương liệu nào. Mùi thơm của nó khá giống với hương ngọt ngào của hoa Violet nhưng giá trị thực sự ở nó là khả năng hài hòa những mùi hương khác nhau trong hỗn hợp nhiều loài hoa.
 
Đặc biệt là sử dụng trong những túi thơm, ở đó các tinh chất từ rễ cây Iris thơm được ngấm và hòa trộn với những thành phần hoa khô khác.
 
Các loại Iris
 
Rễ cây Iris thơm được lấy từ 3 loại Iris có họ hàng thân thiết với nhau, đó là Iris germanica, Iris florentina và Iris pallida.
 
Iris germanica.
 
Nhiều rễ cây Iris thơm sử dụng ngày nay được trồng ở Italy. Mất từ 2 đến 3 năm cho một Iris từ lúc mới trồng cho đến khi trưởng thành trước khi bộ rễ được thu hoạch. Những thân rễ nên được đào lên, lột vỏ, xát thành bột hoặc băm nhỏ khi vẫn còn tươi và mềm. Sau đó, nhất định phải để nó lại cho khô ít nhất 2 năm trước khi mùi thơm đạt đến mức tối đa.
 
Iris florentina.
 
Iris florentina có lẽ là sự lựa chọn tốt nhất trong 3 loai Iris có bộ rễ thơm cho khu vườn dược thảo. Nó tỏa hương thơm ngát và có màu hoa cà phớt trắng. Nó mang lại cảm giác mà tác giả và người làm vườn Patrick Lima gọi là ấn tượng “óng ánh nhiều màu”, vẻ đẹp đó càng nổi bật hơn khi người ta đặt nó trước nền tối.
 
Khác với những loại Iris thảo mộc đó là những cây Iris xanh và vàng- Iris versicolor và Iris pseudacorus. Nó có nguồn gốc từ Bắc Mỹ nhưng cây Iris vàng là một giống cây ngoại có nguồn gốc từ Châu Âu mà thật kỳ lạ, tự nó có mặt ở nơi đây.
 
Iris versicolor.
 
Cả 2 loại này đều ưa đất ẩm, không như Iris rễ thơm thích những vị trí khá khô ráo và tháo nước tốt. Có thế thấy rằng Iris vàng phát triển tuyệt diệu trên một bãi cỏ mọc ở mảnh vườn lát đá. Iris versicolor nhỏ hơn nhưng rất đẹp. Nó cần một chỗ bùn lầy, rộng rãi để có thể mọc thành bụi cây lớn và màu xanh của những bông hoa như phản chiếu sắc trời xanh bên trên.
 
Iris pseudacorus.
 
Trước đây, rễ của những cây này được dùng làm thuốc với rất nhiều mục đích nhưng người ta cho rằng chúng là một loại thuốc tẩy ( thuốc xổ) nguy hiểm, không nên tự ý dùng chữa bệnh tại nhà.
 
Tuy nhiên cây Iris xanh được người da đỏ Bắc Mỹ sử dụng rộng rãi như 1 loại thuốc cao đắp lên những chỗ sưng tấy, vết bỏng và vết lở loét. Nó còn được biết đến vì mùi hương từ rễ sẽ khiến cho các loài rắn tránh xa. Tác giả và nhà thảo dược học Charlotte Erichsen-Brown đã ghi chú rằng người Ấn Độ ở Arizona sử dụng nó trong những vũ điệu rắn và thậm chí họ còn nhai nó để đảm bảo an toàn khi cho những con rắn chuông vào trong mồm của mình!
 
 
Iris vàng trong quá khứ được dùng để chữa ho và những vết bầm tím trên người nhưng nó quá nguy hiểm bởi đặc tính như thuốc tẩy của mình nên bây giờ không còn được sử dụng.
 
Cuối cùng, một loại Iris thú vị nữa không thể bỏ qua, nó có một cái tên rất kỳ cục bởi mùi thơm mang vị… thịt bò nướng của mình.
 
Tên thực vật học là Iris foetidissima, được dùng như một loại thuốc và cũng bị ngừng sử dụng vì khá độc. Là một loài cây lâu năm, hoa của nó không thực sự nổi bật nhưng vẻ đẹp rực rỡ tiềm ẩn là ở chính những hạt màu đỏ lấp lánh được phô bày khi những cánh hoa đã héo tàn và bắt đầu mở ra.
 
Iris foetidissima- mùi thịt bò nướng!
 
 
Đó chính là những hạt giống của cây có thể lưu giữ được rất lâu. Chắc chắn đây là loại cây bạn muốn thêm vào khu vườn của mình. Lưu ý là nó rất thích nơi râm mát.








































Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phân biệt : khoai nước- khoai sọ - dọc mùng - môn bạc hà - Ráy voi....

KHOAI NƯỚC Khoai nước, Môn nước - Colocasia esculenta Schott,  Chi Colocasia - Khoai nước, Khoai môn,  Họ Araceae - ráy, khoai môn, khoai nước, thiên nam tinh,  bộ Alismatales Trạch tả Mô tả:  Khoai nước và Khoai sọ cùng loài nhưng khác thứ: +   Khoai nước - Colocasia esacuenta Schott  trồng nước + Khoai sọ - Colocasia esacuenta  var.  antiquorum  trồng khô.  Cây thảo mọc hoang và được trồng, có củ ở gốc thân hình khối tròn. Lá có cuống cao đến 0,8m; phiến dạng tim, màu lục sẫm nhiều hay ít, tím hay nâu tuỳ giống trồng, gân nổi rõ. Mo vàng có phần ống xanh, đầu nhọn. Trục bông mo mang hoa đực và hoa cái, hoa cái có bầu nhiều noãn. Quả mọng vàng khi chín to 3-4mm. Nơi mọc:   Loài được trồng nhiều ở nước ta và các xứ nhiệt đới để lấy củ ăn. Công dụng:  Ta thường dùng củ nấu ăn với xôi hay nấu chè, làm bánh. Cuống lá cũng thường dùng làm rau ăn nhưng phải xát hoặc ngâm với muối để khỏi ngứa. Cũng dùng muối dưa ăn. Củ tươ...

Tổng hợp các loại đậu

Các loại quả đậu ăn cả vỏ lẫn ruột khi chưa chín Đậu rồng – Đậu khế – Đậu xương rồng – Đậu cánh – Winged bean – Winged pea – Goa bean – Asparagus pea – Four-angled bean. Đậu rồng  còn gọi là đậu khế hay đậu xương rồng, đậu cánh (danh pháp hai phần: Psophocarpus tetragonolobus) là một loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae)  Đậu que – Green bean – String bean – Snap bean. Đậu que   là một tên gọi thường dùng ở Việt Nam để chỉ các loại đậu có dạng quả có đặc điểm dài và ốm, như: Đậu đũa , tên khoa học  Vigna unguiculata sesquipedalis , một loại đậu thuộc  chi Đậu  ( Vigna ),  họ Đậu . Đậu cô ve , tên khoa học  Phaseolus vulgaris , một loại đậu thuộc  chi Đậu cô ve  ( Phaseolus ),  họ Đậu . Đậu cô ve – Đậu a ri cô ve – French beans, French green beans, French filet bean (english) – Haricots verts (french): được trồng ở Đà Lạt. Đậu que ,  đậu ve  hay  đậu cô ve , còn gọi là: đậu a ri cô ve do biến âm từ  tiếng...

Cây Gáo - gáo trắng,gáo vàng,gáo tròn

Cây gáo, còn được gọi là cây thiên ngân, và một số loài như gáo trắng, gáo vàng, gáo tròn, là cây gỗ thường xanh thuộc họ cà phê Rubiaceae. Cây gáo  là cây gỗ thường xanh hoặc nửa rụng lá, thân cao tới 35m, đường kính ngang ngực tới trên 100 cm. Thân tròn, thẳng đứng, vỏ cây khi còn non có màu nâu tro, tròn nhẵn, khi trưởng thành có màu nâu, có sọc thẳng đứng.Cành nhánh dài và phẳng, ngọn hơi rủ, tán hình dù. Thân cây con màu xanh, hình 4 cạnh, thân chính và cành có lõi xốp. Lá mọc đối, hình bầu dục, dài 20 – 25 cm, rộng 12 – 17 cm, chiều dài lá có thể tới 40 – 70cm, mặt dưới có lông mượt. Hoa mọc ở ngọn, màu vàng trắng, hoa trụ vươn dài. Quả chín màu vàng hung, quả sóc 4 ngăn. Hạt nhỏ có cạnh. Cây gáo , có các loài như : gáo trắng, gáo vàng, gáo tròn. 1. Cây Gáo trắng Cây Gáo trắng , hay Gáo tàu, Cà tôm, Cà đam, danh pháp khoa học là Neolamarckia cadamba, nhiều tài liệu sử dụng tên Anthocephalus chinensis (tên chi xuất hiện "Lamarckia" bắt nguồn từ tên của nhà tự nhiên họ...