Chuyển đến nội dung chính

Hydrocotyle nepalensis Hook, (H. javanica Thunb.)cây Rau má lá to, Rau má dại, Rau má rừng

Cây dược liệu cây Rau má lá to, Rau má dại, Rau má rừng - Hydrocotyle nepalensis Hook, (H. javanica Thunb.)Theo y học cổ truyền, dược liệu Rau má lá to Vị cay, hơi đắng, có tác dụng chỉ huyết, chỉ thống tán ứ thanh nhiệt, thanh phế chỉ khái. Ở Ấn Ðộ, cũng được xem có tác dụng bổ mát, gây chuyển hoá, lợi tiểu. Lá non, chần qua nước sôi, dùng ăn ngay hoặc nấu canh, luộc, muối dưa. Ðồng bào Dao dùng toàn cây, giã ra, rắc xuống nước để duốc cá.

1. Hình ảnh cây Rau má lá to

Hình ảnh cây Rau má lá to

2. Thông tin mô tả chi tiết cây dược liệu Rau má lá to

Rau má lá to, Rau má dại, Rau má rừng - Hydrocotyle nepalensis Hook, (H. javanica Thunb.), thuộc họ Hoa tán - Apiaceae.
Mô tả: Cây thảo có thân mọc bò trên mặt đất, dài 0,5-1,2m. Thân mập, tròn, mọng nước. Lá mọc so le, hình mắt chim hay hình thận, có 7-8 thuỳ xẻ sâu, các thuỳ gốc choãi ra, thuỳ tròn, nhẵn, có khía răng cưa; gân lá có nhiều lông to ở gốc; cuống lá dài. Cụm hoa thường chụm lại ở ngọn cành, hơi ngắn hơn lá và mọc ở nách lá, trên một cuống chung dài 3-5cm có khi mọc đơn độc, thường xếp thành chùm 8-15 tán có cuống ngắn, mỗi tán lá có 15-20 hoa nhỏ không cuống. Quả có cuống ngắn, có lông, mang những tuyến màu đỏ và có cạnh lồi không rõ lắm.
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Hydrocotyles Nepalensis.
Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Nêpan, Ấn Ðộ, Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở chỗ ẩm ướt ven suối, ven rừng nơi ẩm và sáng ở nhiều vùng của nước ta từ Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Bắc Thái, Khánh Hoà, Lâm Ðồng, Kontum, Ninh Thuận, có khi chúng mộc tập trung thành từng đám lớn.
Tính vị, tác dụng: Vị cay, hơi đắng, có tác dụng chỉ huyết, chỉ thống tán ứ thanh nhiệt, thanh phế chỉ khái. Ở Ấn Ðộ, cũng được xem có tác dụng bổ mát, gây chuyển hoá, lợi tiểu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá non, chần qua nước sôi, dùng ăn ngay hoặc nấu canh, luộc, muối dưa. Ðồng bào Dao dùng toàn cây, giã ra, rắc xuống nước để duốc cá.
Ở Xri Lanca và Malaixia người ta sử dụng cây này như rau má.
Ở Ấn Ðộ, cây dùng làm thuốc kích thích đối với bệnh ngoài da, lá dùng trị tiêu hoá kém, lỵ và làm thuốc sát trùng.
Ở Trung Quốc, cây dùng trị thổ huyết, ho, đau bụng, đòn ngã, gãy xương, ngứa lở, chó cắn. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phân biệt : khoai nước- khoai sọ - dọc mùng - môn bạc hà - Ráy voi....

KHOAI NƯỚC Khoai nước, Môn nước - Colocasia esculenta Schott,  Chi Colocasia - Khoai nước, Khoai môn,  Họ Araceae - ráy, khoai môn, khoai nước, thiên nam tinh,  bộ Alismatales Trạch tả Mô tả:  Khoai nước và Khoai sọ cùng loài nhưng khác thứ: +   Khoai nước - Colocasia esacuenta Schott  trồng nước + Khoai sọ - Colocasia esacuenta  var.  antiquorum  trồng khô.  Cây thảo mọc hoang và được trồng, có củ ở gốc thân hình khối tròn. Lá có cuống cao đến 0,8m; phiến dạng tim, màu lục sẫm nhiều hay ít, tím hay nâu tuỳ giống trồng, gân nổi rõ. Mo vàng có phần ống xanh, đầu nhọn. Trục bông mo mang hoa đực và hoa cái, hoa cái có bầu nhiều noãn. Quả mọng vàng khi chín to 3-4mm. Nơi mọc:   Loài được trồng nhiều ở nước ta và các xứ nhiệt đới để lấy củ ăn. Công dụng:  Ta thường dùng củ nấu ăn với xôi hay nấu chè, làm bánh. Cuống lá cũng thường dùng làm rau ăn nhưng phải xát hoặc ngâm với muối để khỏi ngứa. Cũng dùng muối dưa ăn. Củ tươ...

Tổng hợp các loại đậu

Các loại quả đậu ăn cả vỏ lẫn ruột khi chưa chín Đậu rồng – Đậu khế – Đậu xương rồng – Đậu cánh – Winged bean – Winged pea – Goa bean – Asparagus pea – Four-angled bean. Đậu rồng  còn gọi là đậu khế hay đậu xương rồng, đậu cánh (danh pháp hai phần: Psophocarpus tetragonolobus) là một loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae)  Đậu que – Green bean – String bean – Snap bean. Đậu que   là một tên gọi thường dùng ở Việt Nam để chỉ các loại đậu có dạng quả có đặc điểm dài và ốm, như: Đậu đũa , tên khoa học  Vigna unguiculata sesquipedalis , một loại đậu thuộc  chi Đậu  ( Vigna ),  họ Đậu . Đậu cô ve , tên khoa học  Phaseolus vulgaris , một loại đậu thuộc  chi Đậu cô ve  ( Phaseolus ),  họ Đậu . Đậu cô ve – Đậu a ri cô ve – French beans, French green beans, French filet bean (english) – Haricots verts (french): được trồng ở Đà Lạt. Đậu que ,  đậu ve  hay  đậu cô ve , còn gọi là: đậu a ri cô ve do biến âm từ  tiếng...

Cây Gáo - gáo trắng,gáo vàng,gáo tròn

Cây gáo, còn được gọi là cây thiên ngân, và một số loài như gáo trắng, gáo vàng, gáo tròn, là cây gỗ thường xanh thuộc họ cà phê Rubiaceae. Cây gáo  là cây gỗ thường xanh hoặc nửa rụng lá, thân cao tới 35m, đường kính ngang ngực tới trên 100 cm. Thân tròn, thẳng đứng, vỏ cây khi còn non có màu nâu tro, tròn nhẵn, khi trưởng thành có màu nâu, có sọc thẳng đứng.Cành nhánh dài và phẳng, ngọn hơi rủ, tán hình dù. Thân cây con màu xanh, hình 4 cạnh, thân chính và cành có lõi xốp. Lá mọc đối, hình bầu dục, dài 20 – 25 cm, rộng 12 – 17 cm, chiều dài lá có thể tới 40 – 70cm, mặt dưới có lông mượt. Hoa mọc ở ngọn, màu vàng trắng, hoa trụ vươn dài. Quả chín màu vàng hung, quả sóc 4 ngăn. Hạt nhỏ có cạnh. Cây gáo , có các loài như : gáo trắng, gáo vàng, gáo tròn. 1. Cây Gáo trắng Cây Gáo trắng , hay Gáo tàu, Cà tôm, Cà đam, danh pháp khoa học là Neolamarckia cadamba, nhiều tài liệu sử dụng tên Anthocephalus chinensis (tên chi xuất hiện "Lamarckia" bắt nguồn từ tên của nhà tự nhiên họ...